Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Bảo hiểm PTI tăng vốn điều lệ "khủng" 50%, lên 1.200 tỷ đồng sau đợt chia cổ phiếu đầu năm. Việc tăng vốn là cấp thiết, giúp doanh nghiệp này mở rộng cơ hội tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, giữ đà tăng doanh thu, nâng cao năng lực cạnh tranh và giành lại thứ hạng trong top 5 doanh nghiệp dẫn đầu thị phần toàn thị trường.
aa

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (mã chứng khoán: PTI) cho biết, đã nhận được Công văn số 618/UBCK-QLCB của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc cơ quan này đã nhận báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu của PTI.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét"

Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng Tường minh quy định, triển khai hiệu quả nghị định xử phạt vi phạm lĩnh vực bảo hiểm

Tăng vốn mạnh sau gần 10 năm

Theo đó, công ty đã phát hành gần 40,2 triệu cổ phiếu cho 8.700 cổ đông hiện hữu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề nghị PTI liên hệ với Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) để thực hiện các thủ tục về đăng ký, lưu ký, niêm yết bổ sung theo quy định.

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? Ảnh tư liệu.

Trước đó, PTI triển khai thực hiện phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, cụ thể là từ nguồn thặng dư vốn cổ phần tại báo cáo tài chính riêng năm 2023 đã kiểm toán của tổng công ty (gần 402 tỷ đồng) theo phương án đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2024 thông qua tại Điều 7 của Nghị quyết số 43/2024/NQ-ĐHĐCĐ-PTI ngày 24/4/2024.

Tăng vốn "khủng" 50%, lên 1.200 tỷ đồng

Với tỷ lệ thực hiện 2:1, cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu được nhận thêm 50 cổ phiếu mới. Như vậy, với hơn 80 triệu cổ phiếu đang lưu hành, PTI phát hành thành công gần 40,2 triệu cổ phiếu. Sau khi hoàn tất phát hành cổ phiếu, vốn điều lệ của PTI tăng từ mức 804 tỷ đồng lên hơn 1.200 tỷ đồng. Tổng số cổ phiếu sau đợt phát hành (ngày 20/1/2025) là gần 120,6 triệu cổ phiếu.

Theo lãnh đạo tổng công ty, việc tăng vốn lần này nhằm mở rộng cơ hội tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường và tăng khả năng trích lập dự phòng và đảm bảo an toàn tài chính.

Theo ghi nhận, suốt gần 10 năm qua, từ ngày 21/4/2015 đến hết năm 2024, tổng công ty không thực hiện thêm bất kỳ đợt thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu nào.

Được biết, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) tiền thân là Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 1998. Ngày 1/4/2001, Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 chính thức có hiệu lực, tại giấy phép này, vốn điều lệ của PTI là 105 tỷ đồng.

Năm 2008, PTI thực hiện tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng theo giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Năm 2010, PTI thay đổi vốn điều lệ lên 450 tỷ đồng sau khi hoàn thành đợt tăng vốn theo giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Cũng trong năm này, PTI chính thức đổi tên thành Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện.

Năm 2011, PTI chính thức niêm yết trên HNX với mã chứng khoán PТІ. Năm 2012, vốn điều lệ của PTI gần 504 tỷ đồng. Năm 2015, DB Insurance - doanh nghiệp bảo hiểm đứng thứ 2 Hàn Quốc chính thức trở thành cổ đông chiến lược của PTI, chiếm 37,32% cổ phần của PTI, nâng số vốn điều lệ của PTI lên thành gần 804 tỷ đồng. Kết thúc năm 2015, PTI đứng vị trí số 4 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

Năm 2016, PTI có thêm cổ đông lớn là Công ty Cổ phần chứng khoán VnDirect, đến cuối năm, PTI vươn lên top 3 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

Co kéo chi phí, giữ đà tăng lợi nhuận

Về tình hình kinh doanh, năm 2024, PTI đặt mục tiêu đạt 5.353 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm và hơn 279 tỷ đồng doanh thu hoạt động tài chính, lần lượt tăng 10% và 3% so với kết quả 2023, song mục tiêu lãi sau thuế giảm 31%, dự kiến đạt 175 tỷ đồng.

So với kế hoạch lợi nhuận thận trọng đặt ra, kết thúc năm 2024, PTI vượt 85% chỉ tiêu, với lãi sau thuế đạt 324 tỷ đồng, tăng 28% cùng kỳ. Đây cũng là mức lãi cao nhất trong suốt chặng đường 26 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

Mong ngóng đợt tăng vốn
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trường năm 2024 tăng 11,68%, cao hơn nhiều so với mức tăng 3% cùng kỳ, PTI là một trong số doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm so với năm 2023, với tốc độ tăng trưởng giảm 21%, đạt 4.090 tỷ đồng. Như vậy, hai năm liên tiếp, doanh thu phí bảo hiểm gốc của PTI đều giảm khoảng 20%.

Thị phần đạt trên 5%

Năm 2024, thị phần PTI đạt 5,05%, giảm so với những năm trước đó như: năm 2023 (7,13%); năm 2022 (9,02%). Trong nhiều năm trước, Bảo hiểm PTI cũng thường xuyên lọt top 5 doanh nghiệp có doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ cao nhất thị trường.

Dù doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm, song PTI có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao, lên tới 51,11% so với tỷ lệ bồi thường toàn thị trường (30%).

PTI phân phối đa kênh trên nền tảng kênh của bưu chính viễn thông, kênh ngân hàng, kênh đăng kiểm và các chuỗi bán và sửa chữa ô tô, kênh thương mại điện tử.

PTI nhận diện rõ những thách thức của ngành bảo hiểm phi nhân thọ, khi các chi phí đẩy khiển cho chi phí bồi thường bị nâng cao, trong khi mức phí bảo hiểm cạnh tranh chưa thể điều chỉnh theo kịp.

Không chỉ doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm giảm, doanh thu hoạt động tài chính của PTI cũng giảm 58 tỷ đồng, tương ứng 21%, đạt 213,73 tỷ đồng. Trong đó, lãi tiền gửi có kỳ hạn giảm 8,5%, tương ứng giảm gần 16 tỷ đồng, đạt 166 tỷ đồng. Lãi kinh doanh trái phiếu, đầu tư khác đạt gần 39 tỷ đồng, giảm 54%, còn khoảng 45 tỷ đồng.

Dù vậy, lũy kế năm 2024, PTI lãi sau thuế 324 tỷ đồng, tăng 28% so với năm trước. Trong đó, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 40,2%, lên 435,5 tỷ đồng nhờ chi phí bồi thường bảo hiểm giảm 27%; chi phí khác giảm 24%. Ở chiều ngược lại, lợi nhuận hoạt động tài chính giảm 24% còn 157,3 tỷ đồng, do lãi tiền gửi và lãi đầu tư trái phiếu giảm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80