Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Bảo hiểm PTI tăng vốn điều lệ "khủng" 50%, lên 1.200 tỷ đồng sau đợt chia cổ phiếu đầu năm. Việc tăng vốn là cấp thiết, giúp doanh nghiệp này mở rộng cơ hội tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, giữ đà tăng doanh thu, nâng cao năng lực cạnh tranh và giành lại thứ hạng trong top 5 doanh nghiệp dẫn đầu thị phần toàn thị trường.
aa

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (mã chứng khoán: PTI) cho biết, đã nhận được Công văn số 618/UBCK-QLCB của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc cơ quan này đã nhận báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu của PTI.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét"

Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng Tường minh quy định, triển khai hiệu quả nghị định xử phạt vi phạm lĩnh vực bảo hiểm

Tăng vốn mạnh sau gần 10 năm

Theo đó, công ty đã phát hành gần 40,2 triệu cổ phiếu cho 8.700 cổ đông hiện hữu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề nghị PTI liên hệ với Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) để thực hiện các thủ tục về đăng ký, lưu ký, niêm yết bổ sung theo quy định.

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? Ảnh tư liệu.

Trước đó, PTI triển khai thực hiện phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, cụ thể là từ nguồn thặng dư vốn cổ phần tại báo cáo tài chính riêng năm 2023 đã kiểm toán của tổng công ty (gần 402 tỷ đồng) theo phương án đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2024 thông qua tại Điều 7 của Nghị quyết số 43/2024/NQ-ĐHĐCĐ-PTI ngày 24/4/2024.

Tăng vốn "khủng" 50%, lên 1.200 tỷ đồng

Với tỷ lệ thực hiện 2:1, cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu được nhận thêm 50 cổ phiếu mới. Như vậy, với hơn 80 triệu cổ phiếu đang lưu hành, PTI phát hành thành công gần 40,2 triệu cổ phiếu. Sau khi hoàn tất phát hành cổ phiếu, vốn điều lệ của PTI tăng từ mức 804 tỷ đồng lên hơn 1.200 tỷ đồng. Tổng số cổ phiếu sau đợt phát hành (ngày 20/1/2025) là gần 120,6 triệu cổ phiếu.

Theo lãnh đạo tổng công ty, việc tăng vốn lần này nhằm mở rộng cơ hội tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường và tăng khả năng trích lập dự phòng và đảm bảo an toàn tài chính.

Theo ghi nhận, suốt gần 10 năm qua, từ ngày 21/4/2015 đến hết năm 2024, tổng công ty không thực hiện thêm bất kỳ đợt thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu nào.

Được biết, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) tiền thân là Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 1998. Ngày 1/4/2001, Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 chính thức có hiệu lực, tại giấy phép này, vốn điều lệ của PTI là 105 tỷ đồng.

Năm 2008, PTI thực hiện tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng theo giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Năm 2010, PTI thay đổi vốn điều lệ lên 450 tỷ đồng sau khi hoàn thành đợt tăng vốn theo giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Cũng trong năm này, PTI chính thức đổi tên thành Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện.

Năm 2011, PTI chính thức niêm yết trên HNX với mã chứng khoán PТІ. Năm 2012, vốn điều lệ của PTI gần 504 tỷ đồng. Năm 2015, DB Insurance - doanh nghiệp bảo hiểm đứng thứ 2 Hàn Quốc chính thức trở thành cổ đông chiến lược của PTI, chiếm 37,32% cổ phần của PTI, nâng số vốn điều lệ của PTI lên thành gần 804 tỷ đồng. Kết thúc năm 2015, PTI đứng vị trí số 4 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

Năm 2016, PTI có thêm cổ đông lớn là Công ty Cổ phần chứng khoán VnDirect, đến cuối năm, PTI vươn lên top 3 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

Co kéo chi phí, giữ đà tăng lợi nhuận

Về tình hình kinh doanh, năm 2024, PTI đặt mục tiêu đạt 5.353 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm và hơn 279 tỷ đồng doanh thu hoạt động tài chính, lần lượt tăng 10% và 3% so với kết quả 2023, song mục tiêu lãi sau thuế giảm 31%, dự kiến đạt 175 tỷ đồng.

So với kế hoạch lợi nhuận thận trọng đặt ra, kết thúc năm 2024, PTI vượt 85% chỉ tiêu, với lãi sau thuế đạt 324 tỷ đồng, tăng 28% cùng kỳ. Đây cũng là mức lãi cao nhất trong suốt chặng đường 26 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

Mong ngóng đợt tăng vốn
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trường năm 2024 tăng 11,68%, cao hơn nhiều so với mức tăng 3% cùng kỳ, PTI là một trong số doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm so với năm 2023, với tốc độ tăng trưởng giảm 21%, đạt 4.090 tỷ đồng. Như vậy, hai năm liên tiếp, doanh thu phí bảo hiểm gốc của PTI đều giảm khoảng 20%.

Thị phần đạt trên 5%

Năm 2024, thị phần PTI đạt 5,05%, giảm so với những năm trước đó như: năm 2023 (7,13%); năm 2022 (9,02%). Trong nhiều năm trước, Bảo hiểm PTI cũng thường xuyên lọt top 5 doanh nghiệp có doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ cao nhất thị trường.

Dù doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm, song PTI có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao, lên tới 51,11% so với tỷ lệ bồi thường toàn thị trường (30%).

PTI phân phối đa kênh trên nền tảng kênh của bưu chính viễn thông, kênh ngân hàng, kênh đăng kiểm và các chuỗi bán và sửa chữa ô tô, kênh thương mại điện tử.

PTI nhận diện rõ những thách thức của ngành bảo hiểm phi nhân thọ, khi các chi phí đẩy khiển cho chi phí bồi thường bị nâng cao, trong khi mức phí bảo hiểm cạnh tranh chưa thể điều chỉnh theo kịp.

Không chỉ doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm giảm, doanh thu hoạt động tài chính của PTI cũng giảm 58 tỷ đồng, tương ứng 21%, đạt 213,73 tỷ đồng. Trong đó, lãi tiền gửi có kỳ hạn giảm 8,5%, tương ứng giảm gần 16 tỷ đồng, đạt 166 tỷ đồng. Lãi kinh doanh trái phiếu, đầu tư khác đạt gần 39 tỷ đồng, giảm 54%, còn khoảng 45 tỷ đồng.

Dù vậy, lũy kế năm 2024, PTI lãi sau thuế 324 tỷ đồng, tăng 28% so với năm trước. Trong đó, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 40,2%, lên 435,5 tỷ đồng nhờ chi phí bồi thường bảo hiểm giảm 27%; chi phí khác giảm 24%. Ở chiều ngược lại, lợi nhuận hoạt động tài chính giảm 24% còn 157,3 tỷ đồng, do lãi tiền gửi và lãi đầu tư trái phiếu giảm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80