Tường minh quy định, triển khai hiệu quả nghị định xử phạt vi phạm lĩnh vực bảo hiểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều quy định mới, rõ ràng, minh bạch về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ chính thức thi hành từ ngày 15/2/2025. Những vướng mắc trước khi triển khai đã được trao đổi, làm rõ, từ đó, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, giám sát thị trường, hướng đến phát triển thị trường bảo hiểm ổn định, bền vững hơn.
aa
Tường minh quy định, triển khai hiệu quả nghị định xử phạt vi phạm lĩnh vực bảo hiểm
Trở thành tư vấn viên bảo hiểm là công việc hấp dẫn với nhiều người trẻ. Ảnh tư liệu

Làm rõ những khúc mắc

Chia sẻ nhiều thắc mắc trước khi triển khai Nghị định số 174/2024/NĐ-CP, liên quan đến vi phạm về ghi âm, đại diện Bảo Việt Nhân thọ giả định, trong trường hợp nội dung ghi âm đã có xác nhận của bên mua bảo hiểm về việc tham gia bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện và doanh nghiệp bảo hiểm đã đảm bảo nghe lại nội dung này trước khi quyết định phát hành hợp đồng. Tuy vậy, cơ quan thanh tra xác minh lại từ phía khách hàng có thể xảy ra trường hợp không phải bên mua bảo hiểm là người đã nói nội dung đó trong bản ghi âm.

Tường minh quy định, triển khai hiệu quả nghị định xử phạt vi phạm lĩnh vực bảo hiểm

QUY ĐỊNH MINH BẠCH, RÕ RÀNG HƠN

Thực tiễn triển khai các nghị định trước đây phát sinh một số hạn chế. Chẳng hạn như, một hành vi vi phạm có thể có những cách hiểu khác nhau và vận dụng quy định xử phạt khác nhau. Cùng với đó, có một số điều khoản về xử phạt bổ sung chưa hiệu quả... Còn quy định tại Nghị định số 174 hiện nay đã minh bạch, rõ ràng hơn, dẫn chiếu đầy đủ các hành vi cụ thể. Ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính)

Hiện doanh nghiệp bảo hiểm không có dữ liệu giọng nói và không có công cụ, không đủ khả năng và cơ sở để giám định giọng nói của các công dân Việt Nam, đại diện Bảo Việt Nhân thọ đặt câu hỏi về cơ sở để xử phạt doanh nghiệp bảo hiểm theo điểm đ khoản 1 Điều 24 của Nghị định.

hị, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 53 Thông tư số 67/2023/TT-BTC, khi cung cấp sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, đại lý bảo hiểm cá nhân hoặc nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm phải thực hiện theo quy định.

Theo quy định trên, nội dung ghi âm liên quan tới việc tư vấn sản phẩm bảo hiểm tại thời điểm bên mua bảo hiểm ký bản yêu cầu bảo hiểm đã phải bao gồm thông tin về tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại bên mua bảo hiểm. Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm trong việc xác định đối tượng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm. Cơ quan thanh tra, kiểm tra sẽ xử phạt căn cứ theo bằng chứng cụ thể.

Một điểm cần lưu ý là tại Nghị định số 174 không quy định về hình thức và mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm của đại lý bảo hiểm. Nhiều ý kiến nêu thực tế có thể xảy ra về vấn đề xử phạt khi đại lý cá nhân đã là đại lý cho một doanh nghiệp bảo hiểm nhưng che giấu, tiếp tục ký hợp đồng đại lý với doanh nghiệp bảo hiểm khác.

Hơn nữa, nhiều ý kiến cho rằng, chỉ tập trung vào trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc quản lý, giám sát, đánh giá đại lý bảo hiểm tạo ra gánh nặng cho doanh nghiệp bảo hiểm, tạo áp lực quản lý, kiểm soát kênh đại lý quá mức.

Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tại điểm d khoản 2 Điều 151 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ Tài chính thực hiện giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm với số lượng lớn khoảng 1 triệu đơn vị thông qua doanh nghiệp bảo hiểm, chứ không giám sát qua đại lý bảo hiểm.

"Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý, chịu trách nhiệm về việc tổ chức quản lý, sử dụng đại lý bảo hiểm thông qua doanh nghiệp bảo hiểm" - đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ.

Trường hợp đại lý bảo hiểm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của khách hàng thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng bảo hiểm do đại lý thu xếp.

Để bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải bị xử lý nghiêm minh, bảo đảm công bằng, Nghị định số 174 cũng quy định biện pháp khắc phục hậu quả buộc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô dừng sử dụng đại lý bảo hiểm liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm. Theo đó, các đại lý bảo hiểm vi phạm sẽ không được thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm đó trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 24 Nghị định số 174.

Có thể bị đình chỉ hoạt động tạm thời nếu sai phạm

Về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, căn cứ Điều 3 Nghị định số 174, tổ chức, cá nhân bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền. Mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tối đa là 100 triệu đồng, đối với tổ chức tối đa là 200 triệu đồng. Ngoài ra, chủ thể vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời hạn. Đồng thời, áp dụng 11 biện pháp khắc phục hậu quả.

Thông tin về một số điểm mới của nghị định, ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu bật các nhóm nội dung thay đổi chính tại Nghị định số 174. Theo đó, nghị định sửa đổi, bổ sung cập nhật dựa trên thay đổi quy định pháp luật, đặc biệt tại Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Cùng với đó, bổ sung các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Theo đó, các chức danh thuộc lực lượng công an nhân dân xử phạt các hành vi liên quan đến gian lận hồ sơ bồi thường, đe dọa, cưỡng ép giao kết hợp đồng bảo hiểm, vi phạm về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đồng thời, bổ sung các chức danh thuộc Ngân hàng Nhà nước xử phạt hành vi vi phạm về phòng, chống rửa tiền và xử phạt với đại lý tổ chức là ngân hàng có vi phạm.

Việc triển khai các nghị định trước đây và ban hành Nghị định số 174 góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, hỗ trợ tối đa, hiệu quả công tác quản lý, giám sát, điều hành thị trường bảo hiểm, góp phần thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh, an toàn và hiệu quả. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cũng tự kiểm tra, rà soát hoạt động, giảm thiểu vi phạm trong quá trình hoạt động kinh doanh, bảo đảm các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc, duy trì trật tự, kỷ cương thị trường.

Nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểm trung bình thấp

giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cũng tổ chức đào tạo, phổ biến, tuyên truyền quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt cho các doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, các quy định pháp luật về lĩnh vực này đã và đang được bổ sung, sửa đổi, trong đó có lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, để phù hợp với chuẩn mực quốc tế, góp phần bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế và an ninh quốc gia.

Báo cáo kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền giai đoạn 2018 - 2022 do Ngân hàng Nhà nước công bố cuối năm 2024, nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá trung bình thấp. Đánh giá hiệu quả triển khai của các biến số liên quan đến các biện pháp phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểm, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm chủ trì và đánh giá khoa học dựa trên các biến số, sản phẩm và là một trong những ngành đạt kết quả tốt.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm luôn xác định hoạt động quản lý, giám sát công tác phòng chống rửa tiền là công tác quan trọng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng thời, Cục đã chủ động yêu cầu, đề nghị doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện công tác phòng chống rửa tiền theo quy định, xây dựng quy chế và cử cán bộ/bộ phận phụ trách và giải đáp kịp thời các vướng mắc trong quá trình triển khai./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80