Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có nhiều ngân hàng thu hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cùng 4 nhà băng ghi nhận mức tăng trưởng khả quan. Đây là tín hiệu tích cực với kênh. bancassurance (bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng) sau thời gian dài gặp nhiều khó khăn.
aa
Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng
Năm 2024, nhiều ngân hàng thu nhập hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm. Ảnh tư liệu

Nhiều ngân hàng tăng trưởng dương

Thống kê cho thấy trong năm 2024, các nhà băng gặt hái thu nhập hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm có thể kể đến như: MB dẫn đầu với doanh thu 8.443,2 tỷ đồng; VPBank đạt 4.150,9 tỷ đồng.

Các nhà băng khác cũng thu lớn như: Techcombank đạt 605,7 tỷ đồng; LPBank gần 565 tỷ đồng; VIB và TPBank lần lượt thu 447 tỷ đồng và 368,4 tỷ đồng… Với HDBank và Sacombank, theo số liệu bán niên, hai ngân hàng này cũng ghi nhận các khoản thu lớn từ hoạt động bảo hiểm, lần lượt đạt 576 tỷ đồng và 295 tỷ đồng.

Xét về tốc độ tăng trưởng, có 4 ngân hàng tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó, 3/4 nhà băng tăng mạnh hai chữ số. Đứng đầu tốc độ tăng trưởng năm 2024 là Kienlongbank, với mức tăng 44,35%. Tiếp đến là VPBank và SeABank, tương ứng mức tăng trưởng 41,31% và 35,35% so với cùng kỳ. MB có tốc độ tăng trưởng nhỉnh hơn 2,61% cùng kỳ năm trước. Với LPBank, sau ghi tăng trưởng mạnh 65,58% năm 2023, ngân hàng sụt giảm thu nhập từ hoạt động bảo hiểm trong năm 2024.

Số liệu do TBTCVN tổng hợp cũng cho thấy, VPBank là nhà băng duy nhất ghi nhận tốc độ tăng trưởng dương về kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng so với năm 2022, trong khi các ngân hàng khác vẫn sụt giảm thu nhập từ mảng này và xoay vần trong vòng xoáy khó khăn. Luỹ kế năm 2024, VPBank thu 4.151 tỷ đồng từ bảo hiểm, tăng 41,31% cùng kỳ và tăng trưởng 23,76% so với năm 2022 - trước thời điểm thị trường xảy ra biến cố.

Cùng với đó, các ngân hàng đang tiếp tục tìm cách mở rộng hệ sinh thái tài chính và đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng. Trong khi MB có hệ sinh thái đa dạng với hai công ty con hoạt động trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thì VPBank có quan hệ đối tác bancassurance độc quyền với AIA Life Insurance tại Việt Nam và sở hữu Công ty cổ phần bảo hiểm OPES kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, giúp thúc đẩy cơ hội bán chéo sản phẩm.

Cùng với đó, Techcombank đang chuẩn bị lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ sau khi ra mắt công ty bảo hiểm phi nhân thọ vào tháng 10/2024. Cùng với đó, nhà băng này cũng dự định mua lại cổ phần để công ty bảo hiểm phi nhân thọ trở thành công ty con của Techcombank.

Cần thời gian chuyển mình và thích nghi

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Mạnh Hoàng Việt - chuyên gia tư vấn tài chính tại Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT cho rằng, thị trường bảo hiểm vẫn cần thời gian để hồi phục và thích nghi với những quy định mới. Theo ông Việt, những quy định bắt buộc như: tổ chức tín dụng không được tư vấn, chào bán bảo hiểm liên kết đầu tư cho khách hàng trong thời hạn 60 ngày trước và sau ngày giải ngân khoản vay, ghi âm quá trình tư vấn đối với sản phẩm liên kết đầu tư... buộc các công ty bảo hiểm phải chuyển mình và hoàn thiện hơn về công tác giám sát, kiểm tra hoạt động tư vấn sản phẩm bảo hiểm.

Thích nghi với bối cảnh mới

Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng

"Tại nhiều nước phát triển, kênh bancassurance chiếm trên 50% doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, vì vậy các ngân hàng sẽ không bỏ qua kênh phân phối này. Do đó, việc bỏ qua phát triển kênh bancassurance là không thể, thay vào đó, các ngân hàng và công ty bảo hiểm đang tìm cách thích nghi với bối cảnh mới và giai đoạn phát triển mới". Ông Trần Mạnh Hoàng Việt - Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT

Cùng với đó, công ty bảo hiểm cũng quan tâm hơn về việc đào tạo đội ngũ đại lý, tư vấn viên ở lại, hướng đến phát triển những người làm nghề bền vững. Một sự chuyển mình tích cực là hiện nhiều đại lý hướng đến việc chuyên nghiệp hóa nghề bảo hiểm với mô hình toàn thời gian và quan tâm hơn đến hoạch định tài chính cá nhân cho khách hàng và định vị đây là một xu hướng dài hạn, không đơn thuần là bán bảo hiểm như trước đây.

"Sẽ cần một thời gian để các tư vấn viên chân chính, được đào tạo bài bản chứng minh năng lực và lấy lại niềm tin cho thị trường" - ông Việt nhìn nhận.

Cùng với đó, theo chuyên gia tư vấn tài chính tại FIDT, hiện khách hàng tham gia mua bảo hiểm có nhiều thuận lợi hơn trước đây do các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ứng dụng số hóa, cải thiện quy trình tham gia và bồi thường bảo hiểm, tối ưu hóa các dịch vụ. Trong đó, nhiều khâu không cần sự có mặt của tư vấn viên như ngày xưa như thủ tục thanh toán trực tuyến, giải quyết quyền lợi, ngoại trừ những trường hợp phức tạp.

Cũng theo đánh giá từ nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, việc tăng cường khuôn khổ pháp lý cho hoạt động bancassurance có thể có tác động đến tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm trong ngắn hạn cũng như chi phí hoạt động của cả ngân hàng và công ty bảo hiểm khi các yêu cầu về pháp lý trở nên nghiêm ngặt hơn đối với hoạt động bancassurance.

Tuy nhiên, Chứng khoán Vietcap tin tưởng rằng các ngân hàng đã chuẩn bị với quy định mới và tích cực giám sát các hoạt động này để tránh bán sản phẩm bảo hiểm sai mục đích. Việc nâng cao chất lượng bán hàng cũng làm sẽ giảm tỷ lệ hủy hợp đồng trong hai năm đầu và giảm tổn thất cho các công ty bảo hiểm.

Mặc dù các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đối mặt các thách thức trong tăng trưởng lợi nhuận năm 2024 do tăng trưởng phí bảo hiểm nhân thọ ở mức thấp và tỷ lệ bồi thường cao hơn do ảnh hưởng từ bão Yagi, đặc biệt đối với bảo hiểm phi nhân thọ, song triển vọng trong dài hạn của ngành vẫn tích cực.

Theo lý giải của Chứng khoán Vietcap, hiện tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm hiện tại ở Việt Nam vẫn còn thấp và các ngân hàng có thể vẫn đẩy mạnh bancassurance thông qua việc ưu đãi lãi suất cho vay hoặc gửi tiết kiệm cho khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm. Do đó, nhóm phân tích đánh giá, kênh bancassurance vẫn có thể phát triển trong tương lai nhưng với tốc độ chậm hơn so với 10 năm qua và yêu cầu các tiêu chuẩn tuân thủ quy định cao hơn.

Phấn đấu lấy lại đà tăng trưởng

Nhiều tín hiệu lạc quan với thị trường bảo hiểm được ghi nhận năm 2024 khi có 4 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm được cấp phép hoạt động gồm: Công ty cổ phần bảo hiểm phi nhân thọ Techcom, Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm An Phúc và Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm QV Việt Nam, Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Indochine. Tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm vượt 1 triệu tỷ đồng, các chỉ tiêu như đầu tư trở lại nền kinh tế và tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng trưởng hai chữ số.

Cùng với đó, các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục duy trì năng lực tài chính qua giai đoạn 2023 - 2024 là giai đoạn có nhiều khó khăn và biến động đối với thị trường bảo hiểm và đạt được các kết quả theo hướng phát triển chất lượng hơn, minh bạch, bền vững hơn. Mặc dù tốc độ phục hồi còn chậm, song có những tín hiệu về triển vọng tích cực của thị trường.

Năm 2025, toàn ngành bảo hiểm phấn đấu doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 239.636 tỷ đồng, tăng 0,05%. Cùng với đó, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng 2,65%; các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước tăng 6,6% so với năm 2024. Cùng với đó, đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng 5,77%; của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước tăng 5,4%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80