Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có nhiều ngân hàng thu hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cùng 4 nhà băng ghi nhận mức tăng trưởng khả quan. Đây là tín hiệu tích cực với kênh. bancassurance (bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng) sau thời gian dài gặp nhiều khó khăn.
aa
Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng
Năm 2024, nhiều ngân hàng thu nhập hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm. Ảnh tư liệu

Nhiều ngân hàng tăng trưởng dương

Thống kê cho thấy trong năm 2024, các nhà băng gặt hái thu nhập hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm có thể kể đến như: MB dẫn đầu với doanh thu 8.443,2 tỷ đồng; VPBank đạt 4.150,9 tỷ đồng.

Các nhà băng khác cũng thu lớn như: Techcombank đạt 605,7 tỷ đồng; LPBank gần 565 tỷ đồng; VIB và TPBank lần lượt thu 447 tỷ đồng và 368,4 tỷ đồng… Với HDBank và Sacombank, theo số liệu bán niên, hai ngân hàng này cũng ghi nhận các khoản thu lớn từ hoạt động bảo hiểm, lần lượt đạt 576 tỷ đồng và 295 tỷ đồng.

Xét về tốc độ tăng trưởng, có 4 ngân hàng tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó, 3/4 nhà băng tăng mạnh hai chữ số. Đứng đầu tốc độ tăng trưởng năm 2024 là Kienlongbank, với mức tăng 44,35%. Tiếp đến là VPBank và SeABank, tương ứng mức tăng trưởng 41,31% và 35,35% so với cùng kỳ. MB có tốc độ tăng trưởng nhỉnh hơn 2,61% cùng kỳ năm trước. Với LPBank, sau ghi tăng trưởng mạnh 65,58% năm 2023, ngân hàng sụt giảm thu nhập từ hoạt động bảo hiểm trong năm 2024.

Số liệu do TBTCVN tổng hợp cũng cho thấy, VPBank là nhà băng duy nhất ghi nhận tốc độ tăng trưởng dương về kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng so với năm 2022, trong khi các ngân hàng khác vẫn sụt giảm thu nhập từ mảng này và xoay vần trong vòng xoáy khó khăn. Luỹ kế năm 2024, VPBank thu 4.151 tỷ đồng từ bảo hiểm, tăng 41,31% cùng kỳ và tăng trưởng 23,76% so với năm 2022 - trước thời điểm thị trường xảy ra biến cố.

Cùng với đó, các ngân hàng đang tiếp tục tìm cách mở rộng hệ sinh thái tài chính và đa dạng hóa dịch vụ phi tín dụng. Trong khi MB có hệ sinh thái đa dạng với hai công ty con hoạt động trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thì VPBank có quan hệ đối tác bancassurance độc quyền với AIA Life Insurance tại Việt Nam và sở hữu Công ty cổ phần bảo hiểm OPES kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, giúp thúc đẩy cơ hội bán chéo sản phẩm.

Cùng với đó, Techcombank đang chuẩn bị lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ sau khi ra mắt công ty bảo hiểm phi nhân thọ vào tháng 10/2024. Cùng với đó, nhà băng này cũng dự định mua lại cổ phần để công ty bảo hiểm phi nhân thọ trở thành công ty con của Techcombank.

Cần thời gian chuyển mình và thích nghi

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Mạnh Hoàng Việt - chuyên gia tư vấn tài chính tại Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT cho rằng, thị trường bảo hiểm vẫn cần thời gian để hồi phục và thích nghi với những quy định mới. Theo ông Việt, những quy định bắt buộc như: tổ chức tín dụng không được tư vấn, chào bán bảo hiểm liên kết đầu tư cho khách hàng trong thời hạn 60 ngày trước và sau ngày giải ngân khoản vay, ghi âm quá trình tư vấn đối với sản phẩm liên kết đầu tư... buộc các công ty bảo hiểm phải chuyển mình và hoàn thiện hơn về công tác giám sát, kiểm tra hoạt động tư vấn sản phẩm bảo hiểm.

Thích nghi với bối cảnh mới

Những điểm sáng trong hoạt động bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng

"Tại nhiều nước phát triển, kênh bancassurance chiếm trên 50% doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, vì vậy các ngân hàng sẽ không bỏ qua kênh phân phối này. Do đó, việc bỏ qua phát triển kênh bancassurance là không thể, thay vào đó, các ngân hàng và công ty bảo hiểm đang tìm cách thích nghi với bối cảnh mới và giai đoạn phát triển mới". Ông Trần Mạnh Hoàng Việt - Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT

Cùng với đó, công ty bảo hiểm cũng quan tâm hơn về việc đào tạo đội ngũ đại lý, tư vấn viên ở lại, hướng đến phát triển những người làm nghề bền vững. Một sự chuyển mình tích cực là hiện nhiều đại lý hướng đến việc chuyên nghiệp hóa nghề bảo hiểm với mô hình toàn thời gian và quan tâm hơn đến hoạch định tài chính cá nhân cho khách hàng và định vị đây là một xu hướng dài hạn, không đơn thuần là bán bảo hiểm như trước đây.

"Sẽ cần một thời gian để các tư vấn viên chân chính, được đào tạo bài bản chứng minh năng lực và lấy lại niềm tin cho thị trường" - ông Việt nhìn nhận.

Cùng với đó, theo chuyên gia tư vấn tài chính tại FIDT, hiện khách hàng tham gia mua bảo hiểm có nhiều thuận lợi hơn trước đây do các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ứng dụng số hóa, cải thiện quy trình tham gia và bồi thường bảo hiểm, tối ưu hóa các dịch vụ. Trong đó, nhiều khâu không cần sự có mặt của tư vấn viên như ngày xưa như thủ tục thanh toán trực tuyến, giải quyết quyền lợi, ngoại trừ những trường hợp phức tạp.

Cũng theo đánh giá từ nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, việc tăng cường khuôn khổ pháp lý cho hoạt động bancassurance có thể có tác động đến tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm trong ngắn hạn cũng như chi phí hoạt động của cả ngân hàng và công ty bảo hiểm khi các yêu cầu về pháp lý trở nên nghiêm ngặt hơn đối với hoạt động bancassurance.

Tuy nhiên, Chứng khoán Vietcap tin tưởng rằng các ngân hàng đã chuẩn bị với quy định mới và tích cực giám sát các hoạt động này để tránh bán sản phẩm bảo hiểm sai mục đích. Việc nâng cao chất lượng bán hàng cũng làm sẽ giảm tỷ lệ hủy hợp đồng trong hai năm đầu và giảm tổn thất cho các công ty bảo hiểm.

Mặc dù các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đối mặt các thách thức trong tăng trưởng lợi nhuận năm 2024 do tăng trưởng phí bảo hiểm nhân thọ ở mức thấp và tỷ lệ bồi thường cao hơn do ảnh hưởng từ bão Yagi, đặc biệt đối với bảo hiểm phi nhân thọ, song triển vọng trong dài hạn của ngành vẫn tích cực.

Theo lý giải của Chứng khoán Vietcap, hiện tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm hiện tại ở Việt Nam vẫn còn thấp và các ngân hàng có thể vẫn đẩy mạnh bancassurance thông qua việc ưu đãi lãi suất cho vay hoặc gửi tiết kiệm cho khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm. Do đó, nhóm phân tích đánh giá, kênh bancassurance vẫn có thể phát triển trong tương lai nhưng với tốc độ chậm hơn so với 10 năm qua và yêu cầu các tiêu chuẩn tuân thủ quy định cao hơn.

Phấn đấu lấy lại đà tăng trưởng

Nhiều tín hiệu lạc quan với thị trường bảo hiểm được ghi nhận năm 2024 khi có 4 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm được cấp phép hoạt động gồm: Công ty cổ phần bảo hiểm phi nhân thọ Techcom, Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm An Phúc và Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm QV Việt Nam, Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Indochine. Tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm vượt 1 triệu tỷ đồng, các chỉ tiêu như đầu tư trở lại nền kinh tế và tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng trưởng hai chữ số.

Cùng với đó, các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục duy trì năng lực tài chính qua giai đoạn 2023 - 2024 là giai đoạn có nhiều khó khăn và biến động đối với thị trường bảo hiểm và đạt được các kết quả theo hướng phát triển chất lượng hơn, minh bạch, bền vững hơn. Mặc dù tốc độ phục hồi còn chậm, song có những tín hiệu về triển vọng tích cực của thị trường.

Năm 2025, toàn ngành bảo hiểm phấn đấu doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 239.636 tỷ đồng, tăng 0,05%. Cùng với đó, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng 2,65%; các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước tăng 6,6% so với năm 2024. Cùng với đó, đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng 5,77%; của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước tăng 5,4%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Năm 2026, VINARE đặt mục tiêu doanh thu, trong đó gồm doanh thu phí bảo hiểm, đạt 4.266 tỷ đồng, tăng 10,2%; lợi nhuận trước thuế 560 tỷ đồng, tăng 10,3% và duy trì cổ tức tiền mặt 10%. Trước đó, dù chịu tác động từ thiên tai diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn hoàn thành vượt kế hoạch kinh doanh năm 2025.
Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,430 ▲230K 17,730 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲50K 16,150 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,950 ▲50K 17,250 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,900 ▲50K 17,200 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,830 ▲50K 17,180 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Hà Nội - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đà Nẵng - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Miền Tây - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Tây Nguyên - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Miếng SJC Nghệ An 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Miếng SJC Thái Bình 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,420 ▲250K 17,720 ▲250K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,910 ▲250K 17,610 ▲250K
Trang sức 99.99 16,920 ▲250K 17,620 ▲250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,742 ▲23K 17,722 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,742 ▲23K 17,723 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 174 ▼1543K 177 ▼1570K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 174 ▼1543K 1,771 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 172 ▼1525K 1,755 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 167,262 ▲2277K 173,762 ▲2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,888 ▲1725K 131,788 ▲1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,602 ▲1564K 119,502 ▲1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,316 ▲1403K 107,216 ▲1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,577 ▲1341K 102,477 ▲1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,441 ▲959K 73,341 ▲959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cập nhật: 01/04/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17657 17930 18506
CAD 18402 18679 19296
CHF 32355 32738 33381
CNY 0 3470 3830
EUR 29817 30089 31117
GBP 34055 34445 35379
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14789 15376
SGD 19941 20224 20751
THB 720 783 837
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,927 29,951 31,190
JPY 161.19 161.48 170.17
GBP 34,218 34,311 35,280
AUD 17,890 17,955 18,520
CAD 18,581 18,641 19,207
CHF 32,607 32,708 33,467
SGD 20,055 20,117 20,788
CNY - 3,781 3,899
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 16.09 16.78 18.14
THB 769.62 779.13 830.09
NZD 14,806 14,943 15,293
SEK - 2,736 2,816
DKK - 4,005 4,121
NOK - 2,673 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,099.75 - 6,845.57
TWD 744.5 - 896.39
SAR - 6,895.21 7,219.58
KWD - 83,477 88,275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 17860 17960 18885
CAD 18596 18696 19707
CHF 32627 32657 34231
CNY 3765.9 3790.9 3926.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30015 30045 31772
GBP 34366 34416 36177
HKD 0 3355 0
JPY 162.44 162.94 173.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14918 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20108 20238 20971
THB 0 749.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17500000 17500000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,360
USD20 26,165 26,215 26,360
USD1 23,850 26,215 26,360
AUD 17,911 18,011 19,132
EUR 30,138 30,138 31,569
CAD 18,537 18,637 19,952
SGD 20,180 20,330 20,907
JPY 162.78 164.28 168.95
GBP 34,231 34,581 35,470
XAU 17,498,000 0 17,802,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80