Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng
Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu “diều hâu” Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước “biến số” tỷ giá cuối năm

Đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng sau 3 tuần hút mạnh

Trong tuần qua (từ ngày 27 - 31/7), Ngân hàng Nhà nước chuyển sang bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO), sau 3 tuần liên tiếp hút ròng mạnh.

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 48.341,48 tỷ đồng, ở các kỳ hạn 7 ngày, 63 ngày và 91 ngày, lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Từ đó, bù đắp lượng OMO đáo hạn lớn trong tuần và duy trì trạng thái ổn định của hệ thống. Lượng giấy tờ có giá đáo hạn đạt 36.018,69 tỷ đồng, tập trung chủ yếu trong phiên đầu tuần với hơn 16.382 tỷ đồng.

Lãi suất qua đêm lao dốc

Nhiều tín hiệu cho thấy thanh khoản hệ thống tiếp tục dồi dào. Lãi suất VND qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chốt ngày 30/7/2026 ở mức 0,75%/năm, giảm 1,68 điểm phần trăm so với cuối tuần trước và xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng 3/2024.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.322,94 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, đảo chiều sau 3 tuần liên tiếp hút ròng mạnh khoảng 77.700 tỷ đồng.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO tăng lên 172.530,36 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.322,94 tỷ đồng qua kênh thị trường mở,
Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% khi tính tỷ lệ LDR giúp thanh khoản giải tỏa. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng lần lượt 0,98 điểm phần trăm và 0,33 điểm phần trăm, lên 4,49%/năm và 5,80%/năm.

Lãi suất 1 tháng và 3 tháng theo đà giảm, nhưng vẫn neo ở mức cao. Cụ thể, kỳ hạn 1 tháng giảm 0,84 điểm phần trăm, xuống 6,4%/năm; kỳ hạn 3 tháng giảm 0,37 điểm phần trăm, xuống 7,34%/năm.

Về giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, doanh số giao dịch bình quân tiếp tục duy trì ở mức cao, dao động quanh 800 nghìn tỷ đồng, phản ánh thanh khoản giữa các tổ chức tín dụng vẫn dồi dào và nhu cầu điều hòa vốn ngắn hạn ở mức lớn, dù Ngân hàng Nhà nước đã chuyển sang bơm ròng qua kênh OMO trong tuần qua.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN ngày 30/7/2026 quy định về tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).

Theo đó, tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi là 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028.

Như vậy, từ ngày 1/8/2026, các ngân hàng được phép tính tối đa 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR, thay vì mức 20% như trước đây.

Việc điều chỉnh công thức tính LDR được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng, mà không làm gia tăng đáng kể áp lực huy động vốn. Tuy nhiên, lợi ích từ chính sách này chủ yếu thuộc về nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khi nhóm “big 4” đang nắm giữ phần lớn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước trong tổng số 626.716 tỷ đồng tính đến cuối tháng 3/2026.

Trong báo cáo tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) đánh giá, thanh khoản ngắn hạn tiếp tục ổn định, qua đó tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước rút bớt lượng vốn hỗ trợ, mà không gây biến động lớn trên thị trường.

“Tuy nhiên, khoảng cách giữa lãi suất qua đêm - 1 tuần và các kỳ hạn từ 1 - 3 tháng vẫn ở mức rộng, phản ánh nhu cầu cân đối vốn trung hạn của các tổ chức tín dụng vẫn lớn, nhất là tại kỳ hạn 2 tuần có biến động ngược chiều với các kỳ hạn khác trong bối cảnh thời điểm cuối tháng” - Chứng khoán Yuanta lưu ý.

Vì vậy, nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta cho rằng, trên thị trường 1, lãi suất huy động và cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý III/2026.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh khi Fed, BoE và BoJ vẫn phát tín hiệu “diều hâu”

Trên thị trường ngoại hối, diễn biến ghi nhận sự phân hóa giữa tỷ giá điều hành và thị trường.

Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng mạnh tổng cộng 55 đồng so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp. Trong tuần, tỷ giá trung tâm hầu hết tăng trên 10 đồng các phiên, chốt tuần ở 25.338 đồng/USD và ở mức cao lịch sử.

Ngược lại, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục xu hướng điều chỉnh giảm, phù hợp với đà hạ nhiệt của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế. Kết thúc tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.080 - 26.490 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng giảm 20 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.090 - 26.470 VND/USD, cùng giảm 40 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm 80 đồng, xuống còn 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến này cho thấy áp lực trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.322,94 tỷ đồng qua kênh thị trường mở,

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giằng co quanh mốc 100 điểm sau khi trụ vững quanh 101 điểm.

Trong tuần này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đều quyết định giữ nguyên lãi suất.

Tuy nhiên, đằng sau các quyết định này là thông điệp thận trọng khi cả 3 ngân hàng trung ương đều bày tỏ lo ngại áp lực lạm phát có thể quay trở lại do giá năng lượng tăng, căng thẳng địa chính trị, biến động tỷ giá và làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI).

Điều này cho thấy, các nhà hoạch định chính sách sẵn sàng tiếp tục thắt chặt tiền tệ nếu lạm phát có dấu hiệu lan rộng sang tiền lương, kỳ vọng lạm phát và giá tiêu dùng.

Đối với Fed, lãi suất được giữ trong biên độ 3,5 - 3,75%, song quyết định này không đạt được sự đồng thuận tuyệt đối khi ba thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) gồm Beth Hammack, Neel Kashkari và Lorie Logan bỏ phiếu ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm. Chủ tịch Kevin Warsh cũng tái khẳng định, Fed kiên định với mục tiêu đưa lạm phát về 2% và không chấp nhận mức lạm phát cao hơn trong thời gian dài.

Tương tự, BoE giữ lãi suất ở mức 3,75%, nhưng kết quả bỏ phiếu 6 - 3 cho thấy quan điểm thắt chặt vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC), với 3 thành viên đề xuất nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.

Trong khi đó, BoJ tiếp tục duy trì lãi suất ngắn hạn ở mức 1%, song Thống đốc Kazuo Ueda khẳng định, ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục nâng lãi suất nếu lạm phát và tăng trưởng kinh tế diễn biến phù hợp với dự báo.

Như vậy, dù đồng loạt giữ nguyên lãi suất, cả Fed, BoE và BoJ đều phát đi tín hiệu rằng chu kỳ thắt chặt tiền tệ chưa thực sự kết thúc và rủi ro lạm phát vẫn là yếu tố cần được theo dõi sát trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
Hà Nội - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
Đà Nẵng - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
Miền Tây - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
Tây Nguyên - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 ▼900K 141,000 ▼800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▼90K 14,100 ▼90K
NL 99.99 12,900 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,290 ▼90K 13,990 ▼90K
Trang sức 99.99 13,300 ▼90K 14,000 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▼1242K 14,102 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▼1242K 14,103 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▼9K 1,405 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▼9K 1,406 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 ▼9K 1,385 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 ▲117027K 137,129 ▲123327K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 ▲84744K 104,035 ▲93564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 ▼612K 94,339 ▼612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 ▼550K 84,643 ▼550K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 ▼524K 80,904 ▼524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 ▼43675K 5,791 ▼52495K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▼1242K 141 ▼1278K
Cập nhật: 01/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17926 18200 18784
CAD 18219 18495 19117
CHF 31906 32287 32936
CNY 0 3853 3946
EUR 29674 29896 30980
GBP 34638 35031 35969
HKD 0 3222 3424
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15132 15728
SGD 19958 20241 20823
THB 702 765 819
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26105 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80