Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét"

Tú Anh
(TBTCO) - Kết quả kinh doanh quý III/2024 của ngành Bảo hiểm phi nhân thọ chịu nhiều ảnh hưởng từ cơn bão số 3 Yagi. Dù doanh thu phí bảo hiểm vẫn duy trì đà tăng trưởng, song sự gia tăng đột biến chi phí bồi thường khách hàng, tăng dự phòng khiến lợi nhuận nhiều công ty suy giảm.
aa
Doanh nghiệp bảo hiểm sát cánh cùng khách hàng sau bão số 3 Mua thuốc, vật tư y tế bên ngoài do thiếu, người bệnh vẫn sẽ được thanh toán bảo hiểm Đề xuất doanh nghiệp thiệt hại do bão số 3 tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội

Nhìn lại sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 9 tháng năm 2024, theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 58.541 tỷ đồng, tăng 12,79% so với cùng kỳ.

Tốc độ tăng trưởng này cho thấy thị trường đang thoát đáy khó khăn khi cả năm 2023 ghi nhận mức tăng doanh thu phí bảo hiểm chỉ 3%, thấp nhất trong vòng nhiều năm.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão
Lợi nhuận quý III/2024 toàn ngành bảo hiểm phi nhân thọ có dấu hiệu tụt dốc. Ảnh: TL.

Trái chiều tăng trưởng doanh thu - lợi nhuận

Ghi nhận từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cho thấy doanh thu, phí bảo hiểm gốc vẫn duy trì đà tăng trưởng khả quan.

Luỹ kế 9 tháng, đứng vị trí quán quân là Tổng công ty Bảo hiểm PVI với phí bảo hiểm gốc đạt 10.629 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2023. Đứng vị trí á quân là Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt với phí bảo hiểm gốc đạt 7.800 tỷ đồng, tăng 4% cùng kỳ. Tiếp đó là Bảo Minh ước đạt 4.634 tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ…

Dù doanh thu phí bảo hiểm duy trì đà tăng song lợi nhuận quý III/2024 toàn ngành có dấu hiệu tụt dốc. Theo thống kê của phóng viên TBTCVN từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khối phi nhân thọ niêm yết trên sàn chứng khoán cho thấy, toàn thị trường có 7/11 doanh nghiệp báo lãi và chỉ có 2/11 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận sau thuế so với cùng kỳ. Trong quý III/2024, lợi nhuận ngành giảm khốc liệt, tương ứng mức giảm 50% cùng kỳ.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão

Cụ thể, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt dẫn đầu thị trường với lợi nhuận sau thuế đạt 250 tỷ đồng, hiếm hoi duy trì mức tăng trưởng 40,1% cùng kỳ. PVI ghi nhận mức lãi trong quý III/2024 gần 164 tỷ đồng song giảm 43% so với quý trước và giảm 46% so với cùng kỳ. Hơn nữa, lãi giảm sâu qua các quý, từ mức gần 373 tỷ đồng quý I/2024 giảm xuống 286 tỷ đồng trong quý II/2024 và chỉ còn gần 164 tỷ đồng trong quý III/2024.

Một số doanh nghiệp phi nhân thọ lỗ đậm sau thuế sau nhiều năm lãi, đơn cử như: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Long (BLI) lỗ gần 10 tỷ đồng; Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) lỗ hơn 16 tỷ đồng; Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không VNI lỗ hơn 39 tỷ đồng.

Chi phí bồi thường, dự phòng tăng vọt

Sở dĩ doanh thu, phí bảo hiểm gốc vẫn tăng trưởng tích cực song do chi phí bồi thường tăng đột biến, dự phòng tăng cao đã xoá sổ lợi nhuận tích lũy những tháng đầu năm của nhiều doanh nghiệp trong khối. Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tính trong 9 tháng, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 17.621 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc là 30,1%.

Phân tích kỹ hơn bức tranh tài chính của các doanh nghiệp phi nhân thọ, với PVI, theo báo cáo tài chính quý III/2024, trong tổng doanh thu, công ty ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm tăng lần lượt 32% và 44% so với cùng kỳ, đạt hơn 3.559 tỷ đồng và gần 847 tỷ đồng.

Tuy nhiên, các khoản giảm trừ doanh thu cũng tăng 56%, đơn cử là: phí nhượng tái bảo hiểm tăng 55%, tương ứng tăng gần 1.000 tỷ đồng lên hơn 2.720 tỷ đồng và dự phòng phí tăng 83%, lên 72 tỷ đồng. Do đó, doanh thu thuần kinh doanh bảo hiểm chỉ tăng 9%, đạt hơn 1.931 tỷ đồng.

Mặt khác, chi bồi thường nhận tái bảo hiểm và dự phòng bồi thường lần lượt gấp 2,1 lần và 2,3 lần cùng kỳ, lên hơn 267 tỷ đồng và 342 tỷ đồng. Sau khi trừ các khoản chi bồi thường và dự phòng, lợi nhuận gộp giảm 47% so với quý trước, còn hơn 146 tỷ đồng.

Giải trình về biến động kết quả kinh doanh, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần PVI (PVI) Phùng Tuấn Kiên cho biết, lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý III/2024 giảm trên 10% so với quý III/2023 chủ yếu do giảm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tựu trung, lãi hoạt động bảo hiểm giảm mạnh, trong khi lãi từ hoạt động tài chính đi ngang (235 tỷ đồng) khiến lợi nhuận sau thuế quý III/2024 của PVI giảm 46%, còn gần 164 tỷ đồng.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão

Nguồn: Tổng hợp từ WiGroup.

Lũy kế 9 tháng năm 2024, PVI dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là 10.629 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2023; lợi nhuận sau thuế gần 823 tỷ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ chủ yếu là do ảnh hưởng bởi bão Yagi. So với kế hoạch lợi nhuận trước thuế 1.080 tỷ đồng đặt ra cho cả năm, PVI đạt 91% mục tiêu đề ra.

Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh cũng công bố kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2024 với tổng phí bảo hiểm gốc lạc quan, tăng 14% cùng kỳ, đạt 5.100 tỷ đồng. Tuy nhiên, cùng chung số phận như nhiều doanh nghiệp khác, lợi nhuận sau thuế của Bảo hiểm Bảo Minh giảm dần sau các quý và chỉ đạt 195 tỷ đồng sau 9 tháng, với mức giảm 24% cùng kỳ.

Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tính đến giữa tháng 10/2024, số tiền tạm ứng bồi thường từ các doanh nghiệp mới đạt 213 tỷ đồng, trong khi thiệt hại vì bão lũ ước tính là 12.811 tỷ đồng. Số tiền này sẽ san sẻ khó khăn, chia sẻ rủi ro cho các doanh nghiệp, người dân chịu thiệt hại khá nặng nề khi xảy ra thiên tai.

Công ty Bảo hiểm Hàng không (VNI) báo lỗ hơn 39 tỷ đồng sau thuế do chi phí bồi thường bão lên tới 227 tỷ đồng. Đại diện VNI cho biết sau bão số 3 Yagi, ước tính tổng thiệt hại và chi trả quyền lợi bảo hiểm toàn ngành trên 10.000 tỷ đồng. Hiện nay, Công ty đã thực hiện chi trả, tạm ứng bồi thường cho nhiều đơn vị trong tổng thiệt hại khoảng 400-500 tỷ đồng. Trong thời gian tới, số tiền bồi thường sẽ cao hơn có thể dẫn đến lợi nhuận sau thuế ảnh hưởng.

Giới phân tích cho rằng, nhiều khả năng chi phí bồi thường thời gian tới sẽ tiếp tục tăng, khiến lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cuối năm vẫn chưa sáng cửa.

Dù sẽ chịu nhiều ảnh hưởng trong ngắn hạn song về dài hạn, vai trò “tấm lá chắn” trước rủi ro của bảo hiểm được nhận diện rõ nét hơn sẽ tạo động lực tăng trưởng phí bảo hiểm và doanh thu từ các hợp đồng mới./.

Tú Anh

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80