Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét"

Tú Anh
(TBTCO) - Kết quả kinh doanh quý III/2024 của ngành Bảo hiểm phi nhân thọ chịu nhiều ảnh hưởng từ cơn bão số 3 Yagi. Dù doanh thu phí bảo hiểm vẫn duy trì đà tăng trưởng, song sự gia tăng đột biến chi phí bồi thường khách hàng, tăng dự phòng khiến lợi nhuận nhiều công ty suy giảm.
aa
Doanh nghiệp bảo hiểm sát cánh cùng khách hàng sau bão số 3 Mua thuốc, vật tư y tế bên ngoài do thiếu, người bệnh vẫn sẽ được thanh toán bảo hiểm Đề xuất doanh nghiệp thiệt hại do bão số 3 tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội

Nhìn lại sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 9 tháng năm 2024, theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 58.541 tỷ đồng, tăng 12,79% so với cùng kỳ.

Tốc độ tăng trưởng này cho thấy thị trường đang thoát đáy khó khăn khi cả năm 2023 ghi nhận mức tăng doanh thu phí bảo hiểm chỉ 3%, thấp nhất trong vòng nhiều năm.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão
Lợi nhuận quý III/2024 toàn ngành bảo hiểm phi nhân thọ có dấu hiệu tụt dốc. Ảnh: TL.

Trái chiều tăng trưởng doanh thu - lợi nhuận

Ghi nhận từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cho thấy doanh thu, phí bảo hiểm gốc vẫn duy trì đà tăng trưởng khả quan.

Luỹ kế 9 tháng, đứng vị trí quán quân là Tổng công ty Bảo hiểm PVI với phí bảo hiểm gốc đạt 10.629 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2023. Đứng vị trí á quân là Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt với phí bảo hiểm gốc đạt 7.800 tỷ đồng, tăng 4% cùng kỳ. Tiếp đó là Bảo Minh ước đạt 4.634 tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ…

Dù doanh thu phí bảo hiểm duy trì đà tăng song lợi nhuận quý III/2024 toàn ngành có dấu hiệu tụt dốc. Theo thống kê của phóng viên TBTCVN từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khối phi nhân thọ niêm yết trên sàn chứng khoán cho thấy, toàn thị trường có 7/11 doanh nghiệp báo lãi và chỉ có 2/11 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận sau thuế so với cùng kỳ. Trong quý III/2024, lợi nhuận ngành giảm khốc liệt, tương ứng mức giảm 50% cùng kỳ.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão

Cụ thể, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt dẫn đầu thị trường với lợi nhuận sau thuế đạt 250 tỷ đồng, hiếm hoi duy trì mức tăng trưởng 40,1% cùng kỳ. PVI ghi nhận mức lãi trong quý III/2024 gần 164 tỷ đồng song giảm 43% so với quý trước và giảm 46% so với cùng kỳ. Hơn nữa, lãi giảm sâu qua các quý, từ mức gần 373 tỷ đồng quý I/2024 giảm xuống 286 tỷ đồng trong quý II/2024 và chỉ còn gần 164 tỷ đồng trong quý III/2024.

Một số doanh nghiệp phi nhân thọ lỗ đậm sau thuế sau nhiều năm lãi, đơn cử như: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Long (BLI) lỗ gần 10 tỷ đồng; Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) lỗ hơn 16 tỷ đồng; Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không VNI lỗ hơn 39 tỷ đồng.

Chi phí bồi thường, dự phòng tăng vọt

Sở dĩ doanh thu, phí bảo hiểm gốc vẫn tăng trưởng tích cực song do chi phí bồi thường tăng đột biến, dự phòng tăng cao đã xoá sổ lợi nhuận tích lũy những tháng đầu năm của nhiều doanh nghiệp trong khối. Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tính trong 9 tháng, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 17.621 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc là 30,1%.

Phân tích kỹ hơn bức tranh tài chính của các doanh nghiệp phi nhân thọ, với PVI, theo báo cáo tài chính quý III/2024, trong tổng doanh thu, công ty ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm tăng lần lượt 32% và 44% so với cùng kỳ, đạt hơn 3.559 tỷ đồng và gần 847 tỷ đồng.

Tuy nhiên, các khoản giảm trừ doanh thu cũng tăng 56%, đơn cử là: phí nhượng tái bảo hiểm tăng 55%, tương ứng tăng gần 1.000 tỷ đồng lên hơn 2.720 tỷ đồng và dự phòng phí tăng 83%, lên 72 tỷ đồng. Do đó, doanh thu thuần kinh doanh bảo hiểm chỉ tăng 9%, đạt hơn 1.931 tỷ đồng.

Mặt khác, chi bồi thường nhận tái bảo hiểm và dự phòng bồi thường lần lượt gấp 2,1 lần và 2,3 lần cùng kỳ, lên hơn 267 tỷ đồng và 342 tỷ đồng. Sau khi trừ các khoản chi bồi thường và dự phòng, lợi nhuận gộp giảm 47% so với quý trước, còn hơn 146 tỷ đồng.

Giải trình về biến động kết quả kinh doanh, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần PVI (PVI) Phùng Tuấn Kiên cho biết, lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý III/2024 giảm trên 10% so với quý III/2023 chủ yếu do giảm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tựu trung, lãi hoạt động bảo hiểm giảm mạnh, trong khi lãi từ hoạt động tài chính đi ngang (235 tỷ đồng) khiến lợi nhuận sau thuế quý III/2024 của PVI giảm 46%, còn gần 164 tỷ đồng.

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão

Nguồn: Tổng hợp từ WiGroup.

Lũy kế 9 tháng năm 2024, PVI dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là 10.629 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2023; lợi nhuận sau thuế gần 823 tỷ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ chủ yếu là do ảnh hưởng bởi bão Yagi. So với kế hoạch lợi nhuận trước thuế 1.080 tỷ đồng đặt ra cho cả năm, PVI đạt 91% mục tiêu đề ra.

Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh cũng công bố kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2024 với tổng phí bảo hiểm gốc lạc quan, tăng 14% cùng kỳ, đạt 5.100 tỷ đồng. Tuy nhiên, cùng chung số phận như nhiều doanh nghiệp khác, lợi nhuận sau thuế của Bảo hiểm Bảo Minh giảm dần sau các quý và chỉ đạt 195 tỷ đồng sau 9 tháng, với mức giảm 24% cùng kỳ.

Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tính đến giữa tháng 10/2024, số tiền tạm ứng bồi thường từ các doanh nghiệp mới đạt 213 tỷ đồng, trong khi thiệt hại vì bão lũ ước tính là 12.811 tỷ đồng. Số tiền này sẽ san sẻ khó khăn, chia sẻ rủi ro cho các doanh nghiệp, người dân chịu thiệt hại khá nặng nề khi xảy ra thiên tai.

Công ty Bảo hiểm Hàng không (VNI) báo lỗ hơn 39 tỷ đồng sau thuế do chi phí bồi thường bão lên tới 227 tỷ đồng. Đại diện VNI cho biết sau bão số 3 Yagi, ước tính tổng thiệt hại và chi trả quyền lợi bảo hiểm toàn ngành trên 10.000 tỷ đồng. Hiện nay, Công ty đã thực hiện chi trả, tạm ứng bồi thường cho nhiều đơn vị trong tổng thiệt hại khoảng 400-500 tỷ đồng. Trong thời gian tới, số tiền bồi thường sẽ cao hơn có thể dẫn đến lợi nhuận sau thuế ảnh hưởng.

Giới phân tích cho rằng, nhiều khả năng chi phí bồi thường thời gian tới sẽ tiếp tục tăng, khiến lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cuối năm vẫn chưa sáng cửa.

Dù sẽ chịu nhiều ảnh hưởng trong ngắn hạn song về dài hạn, vai trò “tấm lá chắn” trước rủi ro của bảo hiểm được nhận diện rõ nét hơn sẽ tạo động lực tăng trưởng phí bảo hiểm và doanh thu từ các hợp đồng mới./.

Tú Anh

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30