PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận "dè dặt" hơn trong năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bảo hiểm Bưu điện (PTI) không mong đợi sự bứt phá lớn về lợi nhuận trong năm 2025, song lại đưa ra kế hoạch tăng vốn điều lệ mạnh mẽ hơn 1.800 tỷ đồng sau 1 thập kỷ giữ nguyên. Mức tăng vốn gấp 2,5 lần hiện tại thông qua hai phương án phát hành cổ phiếu, từ nguồn vốn chủ sở hữu và chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.
aa
Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới" Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI - mã Ck: PTI) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 vào ngày 22/4 tại Trụ sở chính của PTI, tòa nhà số 95 Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Liên tục tăng vốn để làm gì?

Đại hội dự kiến thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, phương án chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu…

Tiếp tục tăng doanh thu, mục tiêu lợi nhuận giảm

Năm 2025, PTI đặt kế hoạch doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm được kỳ vọng đạt khoảng 4.550 tỷ đồng; doanh thu tài chính dự đạt 287,9 tỷ đồng, đều tăng so với năm 2024. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 320 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp dự kiến ở mức 256 tỷ đồng, đều giảm khoảng 20,5% so với kết quả thực hiện năm 2024.

Tổng công ty dự kiến tiếp tục giữ vững vị thế kinh doanh và thị phần doanh số về bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người và đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản kỹ thuật, đấu thầu bảo hiểm.

Cùng với đó, hoạt động đầu tư đảm bảo an toàn và hiệu quả, mang lại lợi nhuận bền vững. Năm 2025, căn cứ theo tình hình thị trường, Tổng công ty cũng có thể phân bổ nguồn vốn, tăng cường đầu tư vào chứng khoán để gia tăng lợi nhuận đầu tư.

Cũng tại đại hội, Hội đồng Quản trị PTI dự kiến trình cổ đông kế hoạch tăng vốn điều lệ trong năm 2025. Theo lãnh đạo PTI, việc tăng vốn điều lệ sẽ giúp PTI đáp ứng điều kiện tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, tăng cường sự hiện diện trong các dự án quan trọng và gia tăng doanh thu từ phân khúc bảo hiểm doanh nghiệp.

PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận
PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận thụt lùi trong năm 2025. Ảnh tư liệu.

Theo đó, công ty dự kiến tăng vốn thông qua phương án chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 100%) và phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu (tỷ lệ 50%), nâng vốn điều lệ lên 3.015 tỷ đồng. Thời gian thực hiện trong năm 2025 và/hoặc 2026, sau khi có chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cụ thể, PTI trình kế hoạch chào bán thêm 120,6 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 1:1, giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu. Nếu chào bán thành công thì PTI sẽ thu về thêm 1.206 tỷ đồng.

Doanh nghiệp đặt mục tiêu tỷ lệ chào bán thành công tối thiểu 50%, trường hợp không phân phối hết, Hội đồng Quản trị được đại hội ủy quyền tìm kiếm giải pháp huy động thay thế như vay từ tổ chức tín dụng hoặc đối tác chiến lược.

Nguồn vốn thu được sẽ được phân bổ theo cấu trúc: 40% bổ sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư các giấy tờ có giá trên thị trường, đầu tư các loại tài sản khác trên thị trường tài chính/chứng khoán; 30% gửi ngân hàng; 20% bổ sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm; 15% đầu tư hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin.

Bên cạnh đó, PTI cũng đề xuất phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu. PTI dự kiến phát hành gần 60,3 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 2:1 (cổ đông sở hữu 2 cổ phiếu sẽ nhận thêm một cổ phiếu), mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị theo mệnh giá là 603 tỷ đồng. Nguồn vốn thực hiện là từ thặng dư vốn cổ phần (452 tỷ đồng) và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (178 tỷ đồng). Thời gian triển khai dự kiến trong năm 2025 hoặc đầu 2026.

Trước đó, theo ghi nhận, suốt gần 10 năm qua, từ ngày 21/4/2015 đến hết năm 2024, Tổng công ty không thực hiện thêm bất kỳ đợt thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu nào. Đầu năm 2025, Tổng công ty đã phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, với mức tăng 50% lên 1.206 tỷ đồng.

Vẫn đối mặt nhiều thách thức giai đoạn tái cấu trúc

Nhìn lại năm 2024, PTI ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 322 tỷ đồng, tăng 27,3% so với cùng kỳ và vượt 84% so với kế hoạch đề ra. Mức vượt kế hoạch lớn chủ yếu do công ty đặt mục tiêu thận trọng, với kế hoạch ban đầu là 175 tỷ đồng, giảm 31% so với năm 2023. Đây cũng là mức lợi nhuận cao nhất trong suốt 26 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận
Nguồn: PTI.

Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2024 đạt 4.016,1 tỷ đồng, giảm 21% so với năm 2023. Như vậy, hai năm liên tiếp, doanh thu phí bảo hiểm gốc của PTI đều giảm khoảng 20%. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 205 tỷ đồng, giảm 24,5%.

Tăng vốn điều lệ 50% nhưng vẫn thấp trong ngành

Năm 2024, Hội đồng Quản trị PTI thực hiện triển khai công việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, đưa vốn điều lệ lên 1.206 tỷ đồng, tương đương mức tăng 50% sau gần 10 năm không điều chỉnh vốn. Trong báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị, Chủ tịch PTI đánh giá, so với thị trường và quy mô hoạt động của PTI, vốn điều lệ của Tổng công ty vẫn đang ở mức thấp.

Năm vừa qua, PTI cũng triển khai thành công quá trình tái cấu trúc toàn diện, bao gồm: sắp xếp và hoàn thiện mô hình tổ chức kinh doanh, củng cố các điều kiện vận hành hiệu quả, tăng cường quản trị sản phẩm, kiểm soát chặt chẽ chi phí và rủi ro, đồng thời duy trì tỷ lệ kết hợp (combined ratio) hợp lý, đảm bảo các chỉ tiêu tài chính trọng yếu của Tổng công ty.

Tuy nhiên, trong báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị, lãnh đạo PTI thừa nhận, quá trình tái cấu trúc cũng kéo theo những đánh đổi không nhỏ: doanh thu sụt giảm, ảnh hưởng đến thị phần và vị thế cạnh tranh trên thị trường; đồng thời, nhiều nhân sự chủ chốt đã rời khỏi Tổng công ty. Dù vậy, PTI vẫn kiên định theo đuổi định hướng chiến lược đã đề ra và kiểm soát tốt các rủi ro phát sinh trong quá trình chuyển đổi.

Trong công tác quản trị, các thành viên Hội đồng Quản trị tích cực trao đổi, định hướng để hoàn thiện bản đồ chức năng nhiệm vụ của Tổng công ty. "Tuy nhiên, theo đánh giá của Chủ tịch PTI, một số thành viên Hội đồng Quản trị vẫn chưa thực sự đặt lợi ích của Tổng công ty lên hàng đầu, đặc biệt là khi thảo luận và thông qua những quyết sách quan trọng như: chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng nhằm nâng cao năng lực tài chính, hay phê duyệt khung giao dịch với các bên liên quan, vốn là cơ sở để triển khai các hoạt động trong năm" - báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị PTI nêu rõ.

Trong năm qua, hai thành viên Hội đồng Quản trị người Hàn Quốc là ông Lee Kang Jin và ông Koo Young Joo thường xuyên không tham dự trực tiếp các cuộc họp Hội đồng Quản trị, mà ủy quyền cho ông Park Ki Huyn tham dự và biểu quyết. Việc thiếu vắng ý kiến trực tiếp từ các thành viên này phần nào ảnh hưởng đến chất lượng thảo luận và hiệu quả ra quyết định tại các cuộc họp.

Trong đại hội tới đây, PTI cũng bầu Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ mới 2025 - 2030. Theo đó, PTI dự kiến cơ cấu Hội đồng Quản trị gồm 9 thành viên, trong đó ít nhất 3 người là thành viên độc lập, đồng thời duy trì 5 thành viên trong ban kiểm soát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80