PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận "dè dặt" hơn trong năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bảo hiểm Bưu điện (PTI) không mong đợi sự bứt phá lớn về lợi nhuận trong năm 2025, song lại đưa ra kế hoạch tăng vốn điều lệ mạnh mẽ hơn 1.800 tỷ đồng sau 1 thập kỷ giữ nguyên. Mức tăng vốn gấp 2,5 lần hiện tại thông qua hai phương án phát hành cổ phiếu, từ nguồn vốn chủ sở hữu và chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.
aa
Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới" Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI - mã Ck: PTI) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 vào ngày 22/4 tại Trụ sở chính của PTI, tòa nhà số 95 Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Liên tục tăng vốn để làm gì?

Đại hội dự kiến thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, phương án chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu…

Tiếp tục tăng doanh thu, mục tiêu lợi nhuận giảm

Năm 2025, PTI đặt kế hoạch doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm được kỳ vọng đạt khoảng 4.550 tỷ đồng; doanh thu tài chính dự đạt 287,9 tỷ đồng, đều tăng so với năm 2024. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 320 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp dự kiến ở mức 256 tỷ đồng, đều giảm khoảng 20,5% so với kết quả thực hiện năm 2024.

Tổng công ty dự kiến tiếp tục giữ vững vị thế kinh doanh và thị phần doanh số về bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người và đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản kỹ thuật, đấu thầu bảo hiểm.

Cùng với đó, hoạt động đầu tư đảm bảo an toàn và hiệu quả, mang lại lợi nhuận bền vững. Năm 2025, căn cứ theo tình hình thị trường, Tổng công ty cũng có thể phân bổ nguồn vốn, tăng cường đầu tư vào chứng khoán để gia tăng lợi nhuận đầu tư.

Cũng tại đại hội, Hội đồng Quản trị PTI dự kiến trình cổ đông kế hoạch tăng vốn điều lệ trong năm 2025. Theo lãnh đạo PTI, việc tăng vốn điều lệ sẽ giúp PTI đáp ứng điều kiện tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn, tăng cường sự hiện diện trong các dự án quan trọng và gia tăng doanh thu từ phân khúc bảo hiểm doanh nghiệp.

PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận
PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận thụt lùi trong năm 2025. Ảnh tư liệu.

Theo đó, công ty dự kiến tăng vốn thông qua phương án chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 100%) và phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu (tỷ lệ 50%), nâng vốn điều lệ lên 3.015 tỷ đồng. Thời gian thực hiện trong năm 2025 và/hoặc 2026, sau khi có chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cụ thể, PTI trình kế hoạch chào bán thêm 120,6 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 1:1, giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu. Nếu chào bán thành công thì PTI sẽ thu về thêm 1.206 tỷ đồng.

Doanh nghiệp đặt mục tiêu tỷ lệ chào bán thành công tối thiểu 50%, trường hợp không phân phối hết, Hội đồng Quản trị được đại hội ủy quyền tìm kiếm giải pháp huy động thay thế như vay từ tổ chức tín dụng hoặc đối tác chiến lược.

Nguồn vốn thu được sẽ được phân bổ theo cấu trúc: 40% bổ sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư các giấy tờ có giá trên thị trường, đầu tư các loại tài sản khác trên thị trường tài chính/chứng khoán; 30% gửi ngân hàng; 20% bổ sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm; 15% đầu tư hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin.

Bên cạnh đó, PTI cũng đề xuất phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu. PTI dự kiến phát hành gần 60,3 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 2:1 (cổ đông sở hữu 2 cổ phiếu sẽ nhận thêm một cổ phiếu), mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị theo mệnh giá là 603 tỷ đồng. Nguồn vốn thực hiện là từ thặng dư vốn cổ phần (452 tỷ đồng) và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (178 tỷ đồng). Thời gian triển khai dự kiến trong năm 2025 hoặc đầu 2026.

Trước đó, theo ghi nhận, suốt gần 10 năm qua, từ ngày 21/4/2015 đến hết năm 2024, Tổng công ty không thực hiện thêm bất kỳ đợt thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu nào. Đầu năm 2025, Tổng công ty đã phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, với mức tăng 50% lên 1.206 tỷ đồng.

Vẫn đối mặt nhiều thách thức giai đoạn tái cấu trúc

Nhìn lại năm 2024, PTI ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 322 tỷ đồng, tăng 27,3% so với cùng kỳ và vượt 84% so với kế hoạch đề ra. Mức vượt kế hoạch lớn chủ yếu do công ty đặt mục tiêu thận trọng, với kế hoạch ban đầu là 175 tỷ đồng, giảm 31% so với năm 2023. Đây cũng là mức lợi nhuận cao nhất trong suốt 26 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận
Nguồn: PTI.

Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2024 đạt 4.016,1 tỷ đồng, giảm 21% so với năm 2023. Như vậy, hai năm liên tiếp, doanh thu phí bảo hiểm gốc của PTI đều giảm khoảng 20%. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 205 tỷ đồng, giảm 24,5%.

Tăng vốn điều lệ 50% nhưng vẫn thấp trong ngành

Năm 2024, Hội đồng Quản trị PTI thực hiện triển khai công việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, đưa vốn điều lệ lên 1.206 tỷ đồng, tương đương mức tăng 50% sau gần 10 năm không điều chỉnh vốn. Trong báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị, Chủ tịch PTI đánh giá, so với thị trường và quy mô hoạt động của PTI, vốn điều lệ của Tổng công ty vẫn đang ở mức thấp.

Năm vừa qua, PTI cũng triển khai thành công quá trình tái cấu trúc toàn diện, bao gồm: sắp xếp và hoàn thiện mô hình tổ chức kinh doanh, củng cố các điều kiện vận hành hiệu quả, tăng cường quản trị sản phẩm, kiểm soát chặt chẽ chi phí và rủi ro, đồng thời duy trì tỷ lệ kết hợp (combined ratio) hợp lý, đảm bảo các chỉ tiêu tài chính trọng yếu của Tổng công ty.

Tuy nhiên, trong báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị, lãnh đạo PTI thừa nhận, quá trình tái cấu trúc cũng kéo theo những đánh đổi không nhỏ: doanh thu sụt giảm, ảnh hưởng đến thị phần và vị thế cạnh tranh trên thị trường; đồng thời, nhiều nhân sự chủ chốt đã rời khỏi Tổng công ty. Dù vậy, PTI vẫn kiên định theo đuổi định hướng chiến lược đã đề ra và kiểm soát tốt các rủi ro phát sinh trong quá trình chuyển đổi.

Trong công tác quản trị, các thành viên Hội đồng Quản trị tích cực trao đổi, định hướng để hoàn thiện bản đồ chức năng nhiệm vụ của Tổng công ty. "Tuy nhiên, theo đánh giá của Chủ tịch PTI, một số thành viên Hội đồng Quản trị vẫn chưa thực sự đặt lợi ích của Tổng công ty lên hàng đầu, đặc biệt là khi thảo luận và thông qua những quyết sách quan trọng như: chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng nhằm nâng cao năng lực tài chính, hay phê duyệt khung giao dịch với các bên liên quan, vốn là cơ sở để triển khai các hoạt động trong năm" - báo cáo hoạt động của Hội đồng Quản trị PTI nêu rõ.

Trong năm qua, hai thành viên Hội đồng Quản trị người Hàn Quốc là ông Lee Kang Jin và ông Koo Young Joo thường xuyên không tham dự trực tiếp các cuộc họp Hội đồng Quản trị, mà ủy quyền cho ông Park Ki Huyn tham dự và biểu quyết. Việc thiếu vắng ý kiến trực tiếp từ các thành viên này phần nào ảnh hưởng đến chất lượng thảo luận và hiệu quả ra quyết định tại các cuộc họp.

Trong đại hội tới đây, PTI cũng bầu Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ mới 2025 - 2030. Theo đó, PTI dự kiến cơ cấu Hội đồng Quản trị gồm 9 thành viên, trong đó ít nhất 3 người là thành viên độc lập, đồng thời duy trì 5 thành viên trong ban kiểm soát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

(TBTCO) - Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để "xanh hóa" hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Kim TT/AVPL 14,450 ▼100K 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,450 ▼100K 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲100K 13,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲100K 13,550 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▲200K 14,400 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▲200K 14,350 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▲200K 14,330 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
NL 99.90 12,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼100K
Trang sức 99.9 14,040 ▲50K 14,740 ▲50K
Trang sức 99.99 14,050 ▲50K 14,750 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 146 ▼1309K 14,902 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 146 ▼1309K 14,903 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,457 ▲5K 1,487 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,457 ▲5K 1,488 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,432 ▲5K 1,467 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,248 ▲496K 145,248 ▲496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,386 ▲375K 110,186 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,116 ▲340K 99,916 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,846 ▲305K 89,646 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,885 ▲292K 85,685 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,153 ▼46168K 6,133 ▼54988K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cập nhật: 09/07/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17687 17961 18540
CAD 18014 18289 18905
CHF 31894 32275 32928
CNY 0 3828 3921
EUR 29399 29620 30701
GBP 34410 34802 35735
HKD 0 3224 3427
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14761 15346
SGD 19785 20066 20636
THB 701 764 817
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,548 29,572 30,956
JPY 157.53 157.81 167.22
GBP 34,646 34,740 35,909
AUD 17,902 17,967 18,628
CAD 18,193 18,251 18,908
CHF 32,196 32,296 33,229
SGD 19,923 19,985 20,748
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.03 16.72 18.17
THB 749.96 759.22 812.4
NZD 14,753 14,890 15,318
SEK - 2,672 2,764
DKK - 3,952 4,089
NOK - 2,646 2,737
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,030.46 - 6,803.75
TWD 737.66 - 892.87
SAR - 6,885.26 7,246.01
KWD - 83,171 88,419
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26471
AUD 17887 17987 18910
CAD 18192 18292 19303
CHF 32173 32203 33786
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29597 29627 31352
GBP 34755 34805 36565
HKD 0 3355 0
JPY 158.35 158.85 169.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14877 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19954 20084 20806
THB 0 731.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,126 26,176 26,471
USD20 26,126 26,176 26,471
USD1 26,126 26,176 26,471
AUD 17,944 18,044 19,149
EUR 29,419 29,519 31,178
CAD 18,161 18,261 19,568
SGD 20,047 20,197 20,755
JPY 158.96 160.46 166
GBP 34,663 34,813 35,875
XAU 14,548,000 0 14,902,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/07/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80