Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt, phù hợp thực tiễn hệ thống tổ chức tín dụng từng thời kỳ

(TBTCO) - Trong Tờ trình dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) sau 12 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, đã phát sinh khó khăn, vướng mắc cần giải quyết - trong đó quy định về phí BHTG cần được sửa đổi, bổ sung.
aa

Cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt trong từng thời kỳ

Dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đề xuất: Thống đốc NHNN quy định mức phí BHTG, việc áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam trong từng thời kỳ. Đây được coi là nội dung sửa đổi theo hướng tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí linh hoạt (đồng hạng hoặc phân biệt) phù hợp với thực tiễn hệ thống TCTD trong từng thời kỳ; đồng thời phân cấp thẩm quyền quyết định về phí BHTG cho Thống đốc NHNN. Trong khi đó, theo quy định tại Luật BHTG hiện hành, Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG; NHNN quy định mức phí BHTG cụ thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này.

Đánh giá về các đề xuất sửa đổi, bổ sung, các chuyên gia cho rằng, việc phân cấp thẩm quyền quy định về phí BHTG cho Thống đốc NHNN phù hợp chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Đảng, Nhà nước; đồng thời phù hợp với thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của NHNN. NHNN là cơ quan quản lý nhà nước, có chức năng thanh tra, giám sát hệ thống TCTD, NHNN cũng là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động BHTG. Vì vậy, NHNN có đủ cơ sở cần thiết để quy định mức phí BHTG và việc áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với tình hình thực tiễn.

Bên cạnh đó, việc quy định mang tính linh hoạt (Thống đốc NHNN quy định áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống TCTD trong từng thời kỳ) dựa trên cơ sở:

Thứ nhất, hệ thống phí đồng hạng và hệ thống phí phân biệt có ưu điểm và nhược điểm riêng; không có hệ thống phí nào có ưu điểm tuyệt đối. Theo đó, hệ thống phí phân biệt (TCTD có xếp hạng thấp, rủi ro cao phải nộp phí cao hơn; TCTD có xếp hạng cao, hoạt động an toàn nộp phí thấp hơn) có ưu điểm là phù hợp với nguyên tắc thị trường, khuyến khích các TCTD nâng cao năng lực quản trị, hoạt động thận trọng, an toàn để nộp phí BHTG thấp hơn. Tuy nhiên, hệ thống phí phân biệt có nhược điểm là các TCTD có xếp hạng thấp, có tình hình tài chính khó khăn hơn lại phải nộp phí nhiều hơn; vì vậy hệ thống phí này có thể làm cho TCTD xếp hạng thấp gặp khó khăn nhiều hơn.

Thứ hai, trong bối cảnh nhận thức của người gửi tiền về chính sách BHTG còn một số hạn chế, việc áp dụng ngay phí phân biệt có thể tác động trực tiếp đến hành vi của người gửi tiền; có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền hàng loạt khỏi TCTD có xếp hạng thấp để chuyển sang các TCTD có xếp hạng cao hơn (do thông tin về xếp hạng để tính phí BHTG khó có thể bảo mật tuyệt đối). Vì vậy, việc chuyển sang hệ thống phí phân biệt cần được tính toán thận trọng dựa trên thực tiễn thị trường.

Hiện nay, Việt Nam vẫn áp dụng cơ chế phí BHTG đồng hạng (mức phí 0,15%/năm tính trên toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG). Ở thời điểm hiện tại, việc áp dụng cơ chế phí BHTG này phù hợp với thực tiễn hoạt động của các TCTD tại Việt Nam, giúp Quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN tăng trưởng ổn định, là nguồn lực tài chính quan trọng để trả tiền bảo hiểm, xử lý TCTD yếu kém.

Thông lệ quốc tế cho thấy số quốc gia áp dụng phí đồng hạng hoặc phân biệt khá đồng đều nhau. Theo khảo sát thường niên của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) 2024, tính trên 110 tổ chức BHTG trả lời câu hỏi về phí BHTG, có 50 tổ chức BHTG (46%) áp dụng phí đồng hạng, 52 tổ chức BHTG (47%) áp dụng phí phân biệt và 8 tổ chức BHTG (7%) áp dụng cả phí đồng hạng và phí phân biệt. Sự cân bằng nói trên phản ánh thực tế các quốc gia cũng cân nhắc thận trọng về ưu điểm, nhược điểm của từng hệ thống phí khi trước quyết định áp dụng tại quốc gia mình.

Vì vậy, nội dung đề xuất như dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đảm bảo sự linh hoạt khi áp dụng cơ chế phí đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp trong từng thời kỳ, với đặc thù của hệ thống TCTD tại Việt Nam.

Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt, phù hợp thực tiễn hệ thống tổ chức tín dụng từng thời kỳ
Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN

Dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đề xuất: Trường hợp tổ chức BHTG vay đặc biệt NHNN, tổ chức BHTG xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN và gửi NHNN xem xét, quyết định.

Đồng thời, dự thảo Luật cũng đề xuất quy định về vay đặc biệt NHNN như sau: Tổ chức BHTG xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt; sử dụng tiền trả nợ vay đặc biệt của TCTD, nguồn thu từ bán giấy tờ có giá do tổ chức BHTG nắm giữ, từ thanh lý tài sản của TCTD vay đặc biệt, phí BHTG để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho NHNN.

Được biết, đề xuất trên được đưa ra nhằm đồng bộ với quy định tại Luật Các TCTD năm 2024. Bên cạnh đó, theo quy định tại dự thảo Luật, BHTGVN chỉ vay đặc biệt từ NHNN khi Quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền. Như vậy, việc tăng phí chỉ áp dụng trong những tình huống đặc biệt, tạo cơ sở cho BHTGVN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn; bảo đảm khả năng chi trả cho người gửi tiền, đồng thời cũng đảm bảo nguồn tích lũy nhanh hơn để trả lại nguồn tiền vay từ nhà nước (NHNN).

Theo các chuyên gia, về mặt nguyên lý, hoạt động ngân hàng có tính dây chuyền và có ảnh hưởng của hiệu ứng “domino”; sự đổ vỡ của một ngân hàng có nguy cơ dẫn đến rút tiền hàng loạt và ảnh hưởng tới sự an toàn của các ngân hàng khác (kể cả khi các ngân hàng khác hoạt động an toàn, lành mạnh). Vì vậy, khi Quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả cho người gửi tiền ở quy mô lớn, các ngân hàng lành mạnh còn lại có trách nhiệm đóng góp thêm phần phí để đảm bảo niềm tin của người gửi tiền; tránh tình trạng rút tiền hàng loạt tại chính ngân hàng lành mạnh. Điều này đảm bảo nguyên tắc dùng nguồn lực thị trường để xử lý chính vấn đề của thị trường, hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước. Việc tăng phí này chỉ áp dụng trong một giai đoạn nhất định phù hợp với kế hoạch bù đắp khoản vay của BHTGVN từ NHNN; không thực hiện trong thời gian dài.

Theo chuẩn mực quốc tế về BHTG, cơ chế cấp vốn khẩn cấp cho hệ thống BHTG được khuyến nghị cần công khai trong Luật hoặc các quy định dưới Luật. Theo khảo sát thường niên của IADI năm 2024 về nguồn cấp vốn bổ sung hoặc dự phòng cho tổ chức BHTG trong trường hợp khẩn cấp, có 76/108 (70,3%) tổ chức BHTG trả lời có cơ chế thu phí BHTG bổ sung và 16/108 (14,8%) tổ chức BHTG có cơ chế thu trước phí BHTG.

Hoãn nộp phí bảo hiểm tiền gửi

Nội dung tại dự thảo Luật BHTG cũng đề xuất quy định việc TCTD khi được đặt vào kiểm soát đặc biệt (KSĐB) được tạm hoãn việc nộp khoản phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm và khoản tiền chậm nộp (nếu có) phát sinh trước thời điểm TCTD được đặt vào KSĐB. TCTD được kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để hoàn trả đầy đủ khoản tiền được tạm hoãn trong phương án cơ cấu lại trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đánh giá về đề xuất này, các chuyên gia cho biết, tại Khoản 3 Điều 166 Luật TCTD đã có quy định: “TCTD được KSĐB được miễn nộp phí BHTG”. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định về việc tạm hoãn tiền nợ phí BHTG trong các trường hợp TCTD được đặt vào KSĐB. Thực tế phát sinh tình huống TCTD khi đã bị đặt vào KSĐB có khó khăn về tài chính dẫn tới không thể nộp phần phí BHTG mà TCTD còn nợ trước khi được đặt vào KSĐB. Khi đó, các tổ chức này sẽ phải chịu gánh nặng về việc nộp phí BHTG và chịu phạt mỗi ngày chậm nộp, trong khi TCTD đó không có năng lực tài chính để nộp phí.

Theo các chuyên gia, quy định tạm hoãn nộp phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm trước thời điểm bị đặt vào KSĐB không chỉ tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG có thời gian khôi phục hoạt động, mà còn giúp tổ chức BHTG chủ động trong việc theo dõi, xử lý và thu hồi khoản phí còn nợ một cách hợp lý hơn. Khoản phí được tạm hoãn sẽ không được xóa mà TCTD có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để hoàn trả đầy đủ khoản tiền được tạm hoãn trong phương án cơ cấu lại trình cấp có thẩm quyền phê duyệt./.

Hương Mai

Đọc thêm

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố tuyên bố chung về tiền tệ với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trong đó, hai bên tái khẳng định cam kết tránh thao túng tỷ giá hoặc hệ thống tiền tệ quốc tế. Các biện pháp vĩ mô hay kiểm soát dòng vốn không nhằm vào tỷ giá để phục vụ mục đích cạnh tranh.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 15,900
Kim TT/AVPL 15,600 15,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 15,900
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 15,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 15,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 159,000
Hà Nội - PNJ 156,000 159,000
Đà Nẵng - PNJ 156,000 159,000
Miền Tây - PNJ 156,000 159,000
Tây Nguyên - PNJ 156,000 159,000
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 159,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,600 15,900
Miếng SJC Nghệ An 15,600 15,900
Miếng SJC Thái Bình 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,600 15,900
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,090 15,790
Trang sức 99.99 15,100 15,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 15,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 15,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 1,588
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 1,589
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 1,573
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 155,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 118,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 107,125
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 96,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 91,865
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 65,751
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cập nhật: 31/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80