Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt, phù hợp thực tiễn hệ thống tổ chức tín dụng từng thời kỳ

(TBTCO) - Trong Tờ trình dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) sau 12 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, đã phát sinh khó khăn, vướng mắc cần giải quyết - trong đó quy định về phí BHTG cần được sửa đổi, bổ sung.
aa

Cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt trong từng thời kỳ

Dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đề xuất: Thống đốc NHNN quy định mức phí BHTG, việc áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam trong từng thời kỳ. Đây được coi là nội dung sửa đổi theo hướng tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí linh hoạt (đồng hạng hoặc phân biệt) phù hợp với thực tiễn hệ thống TCTD trong từng thời kỳ; đồng thời phân cấp thẩm quyền quyết định về phí BHTG cho Thống đốc NHNN. Trong khi đó, theo quy định tại Luật BHTG hiện hành, Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG; NHNN quy định mức phí BHTG cụ thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này.

Đánh giá về các đề xuất sửa đổi, bổ sung, các chuyên gia cho rằng, việc phân cấp thẩm quyền quy định về phí BHTG cho Thống đốc NHNN phù hợp chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Đảng, Nhà nước; đồng thời phù hợp với thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của NHNN. NHNN là cơ quan quản lý nhà nước, có chức năng thanh tra, giám sát hệ thống TCTD, NHNN cũng là cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động BHTG. Vì vậy, NHNN có đủ cơ sở cần thiết để quy định mức phí BHTG và việc áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với tình hình thực tiễn.

Bên cạnh đó, việc quy định mang tính linh hoạt (Thống đốc NHNN quy định áp dụng phí BHTG đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống TCTD trong từng thời kỳ) dựa trên cơ sở:

Thứ nhất, hệ thống phí đồng hạng và hệ thống phí phân biệt có ưu điểm và nhược điểm riêng; không có hệ thống phí nào có ưu điểm tuyệt đối. Theo đó, hệ thống phí phân biệt (TCTD có xếp hạng thấp, rủi ro cao phải nộp phí cao hơn; TCTD có xếp hạng cao, hoạt động an toàn nộp phí thấp hơn) có ưu điểm là phù hợp với nguyên tắc thị trường, khuyến khích các TCTD nâng cao năng lực quản trị, hoạt động thận trọng, an toàn để nộp phí BHTG thấp hơn. Tuy nhiên, hệ thống phí phân biệt có nhược điểm là các TCTD có xếp hạng thấp, có tình hình tài chính khó khăn hơn lại phải nộp phí nhiều hơn; vì vậy hệ thống phí này có thể làm cho TCTD xếp hạng thấp gặp khó khăn nhiều hơn.

Thứ hai, trong bối cảnh nhận thức của người gửi tiền về chính sách BHTG còn một số hạn chế, việc áp dụng ngay phí phân biệt có thể tác động trực tiếp đến hành vi của người gửi tiền; có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền hàng loạt khỏi TCTD có xếp hạng thấp để chuyển sang các TCTD có xếp hạng cao hơn (do thông tin về xếp hạng để tính phí BHTG khó có thể bảo mật tuyệt đối). Vì vậy, việc chuyển sang hệ thống phí phân biệt cần được tính toán thận trọng dựa trên thực tiễn thị trường.

Hiện nay, Việt Nam vẫn áp dụng cơ chế phí BHTG đồng hạng (mức phí 0,15%/năm tính trên toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG). Ở thời điểm hiện tại, việc áp dụng cơ chế phí BHTG này phù hợp với thực tiễn hoạt động của các TCTD tại Việt Nam, giúp Quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN tăng trưởng ổn định, là nguồn lực tài chính quan trọng để trả tiền bảo hiểm, xử lý TCTD yếu kém.

Thông lệ quốc tế cho thấy số quốc gia áp dụng phí đồng hạng hoặc phân biệt khá đồng đều nhau. Theo khảo sát thường niên của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) 2024, tính trên 110 tổ chức BHTG trả lời câu hỏi về phí BHTG, có 50 tổ chức BHTG (46%) áp dụng phí đồng hạng, 52 tổ chức BHTG (47%) áp dụng phí phân biệt và 8 tổ chức BHTG (7%) áp dụng cả phí đồng hạng và phí phân biệt. Sự cân bằng nói trên phản ánh thực tế các quốc gia cũng cân nhắc thận trọng về ưu điểm, nhược điểm của từng hệ thống phí khi trước quyết định áp dụng tại quốc gia mình.

Vì vậy, nội dung đề xuất như dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đảm bảo sự linh hoạt khi áp dụng cơ chế phí đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp trong từng thời kỳ, với đặc thù của hệ thống TCTD tại Việt Nam.

Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế phí bảo hiểm tiền gửi linh hoạt, phù hợp thực tiễn hệ thống tổ chức tín dụng từng thời kỳ
Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN

Dự thảo Luật BHTG (sửa đổi) đề xuất: Trường hợp tổ chức BHTG vay đặc biệt NHNN, tổ chức BHTG xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN và gửi NHNN xem xét, quyết định.

Đồng thời, dự thảo Luật cũng đề xuất quy định về vay đặc biệt NHNN như sau: Tổ chức BHTG xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt; sử dụng tiền trả nợ vay đặc biệt của TCTD, nguồn thu từ bán giấy tờ có giá do tổ chức BHTG nắm giữ, từ thanh lý tài sản của TCTD vay đặc biệt, phí BHTG để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho NHNN.

Được biết, đề xuất trên được đưa ra nhằm đồng bộ với quy định tại Luật Các TCTD năm 2024. Bên cạnh đó, theo quy định tại dự thảo Luật, BHTGVN chỉ vay đặc biệt từ NHNN khi Quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền. Như vậy, việc tăng phí chỉ áp dụng trong những tình huống đặc biệt, tạo cơ sở cho BHTGVN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn; bảo đảm khả năng chi trả cho người gửi tiền, đồng thời cũng đảm bảo nguồn tích lũy nhanh hơn để trả lại nguồn tiền vay từ nhà nước (NHNN).

Theo các chuyên gia, về mặt nguyên lý, hoạt động ngân hàng có tính dây chuyền và có ảnh hưởng của hiệu ứng “domino”; sự đổ vỡ của một ngân hàng có nguy cơ dẫn đến rút tiền hàng loạt và ảnh hưởng tới sự an toàn của các ngân hàng khác (kể cả khi các ngân hàng khác hoạt động an toàn, lành mạnh). Vì vậy, khi Quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả cho người gửi tiền ở quy mô lớn, các ngân hàng lành mạnh còn lại có trách nhiệm đóng góp thêm phần phí để đảm bảo niềm tin của người gửi tiền; tránh tình trạng rút tiền hàng loạt tại chính ngân hàng lành mạnh. Điều này đảm bảo nguyên tắc dùng nguồn lực thị trường để xử lý chính vấn đề của thị trường, hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước. Việc tăng phí này chỉ áp dụng trong một giai đoạn nhất định phù hợp với kế hoạch bù đắp khoản vay của BHTGVN từ NHNN; không thực hiện trong thời gian dài.

Theo chuẩn mực quốc tế về BHTG, cơ chế cấp vốn khẩn cấp cho hệ thống BHTG được khuyến nghị cần công khai trong Luật hoặc các quy định dưới Luật. Theo khảo sát thường niên của IADI năm 2024 về nguồn cấp vốn bổ sung hoặc dự phòng cho tổ chức BHTG trong trường hợp khẩn cấp, có 76/108 (70,3%) tổ chức BHTG trả lời có cơ chế thu phí BHTG bổ sung và 16/108 (14,8%) tổ chức BHTG có cơ chế thu trước phí BHTG.

Hoãn nộp phí bảo hiểm tiền gửi

Nội dung tại dự thảo Luật BHTG cũng đề xuất quy định việc TCTD khi được đặt vào kiểm soát đặc biệt (KSĐB) được tạm hoãn việc nộp khoản phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm và khoản tiền chậm nộp (nếu có) phát sinh trước thời điểm TCTD được đặt vào KSĐB. TCTD được kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để hoàn trả đầy đủ khoản tiền được tạm hoãn trong phương án cơ cấu lại trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đánh giá về đề xuất này, các chuyên gia cho biết, tại Khoản 3 Điều 166 Luật TCTD đã có quy định: “TCTD được KSĐB được miễn nộp phí BHTG”. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định về việc tạm hoãn tiền nợ phí BHTG trong các trường hợp TCTD được đặt vào KSĐB. Thực tế phát sinh tình huống TCTD khi đã bị đặt vào KSĐB có khó khăn về tài chính dẫn tới không thể nộp phần phí BHTG mà TCTD còn nợ trước khi được đặt vào KSĐB. Khi đó, các tổ chức này sẽ phải chịu gánh nặng về việc nộp phí BHTG và chịu phạt mỗi ngày chậm nộp, trong khi TCTD đó không có năng lực tài chính để nộp phí.

Theo các chuyên gia, quy định tạm hoãn nộp phí BHTG nộp thiếu, nộp chậm trước thời điểm bị đặt vào KSĐB không chỉ tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG có thời gian khôi phục hoạt động, mà còn giúp tổ chức BHTG chủ động trong việc theo dõi, xử lý và thu hồi khoản phí còn nợ một cách hợp lý hơn. Khoản phí được tạm hoãn sẽ không được xóa mà TCTD có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để hoàn trả đầy đủ khoản tiền được tạm hoãn trong phương án cơ cấu lại trình cấp có thẩm quyền phê duyệt./.

Hương Mai

Đọc thêm

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ, vai trò của các định chế tài chính ngày càng trở nên then chốt. Với định hướng đồng hành cùng các ngành nền tảng, doanh nghiệp đầu tàu và hệ sinh thái kinh tế, SHB đang từng bước khẳng định vị thế là cầu nối nguồn lực, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Tại phiên thảo luận “Moving Capital to the Right Destination” trong khuôn khổ Bloomberg Businessweek Vietnam, ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã chia sẻ góc nhìn về áp lực vốn, yêu cầu đa dạng hóa cấu trúc tài chính và định hướng phân bổ dòng vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới.
HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

(TBTCO) - Năm 2025, HSBC Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế 4.141,5 tỷ đồng, giảm 6,9%, chủ yếu do thu nhập lãi thuần suy giảm, trong khi chi phí hoạt động tăng. Dư nợ cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2025 đạt 75.412,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; tỷ lệ nợ xấu giảm còn 0,42%, phản ánh chất lượng tài sản cải thiện.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,300 ▲250K 17,550 ▲250K
Kim TT/AVPL 17,260 ▲250K 17,560 ▲250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,250 ▲250K 17,550 ▲250K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▲200K 16,000 ▲200K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▲200K 15,950 ▲200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,610 ▲200K 17,010 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,560 ▲200K 16,960 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,490 ▲200K 16,940 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 172,200 ▲2500K 175,200 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,300 ▲300K 17,550 ▲250K
Miếng SJC Nghệ An 17,300 ▲300K 17,550 ▲250K
Miếng SJC Thái Bình 17,300 ▲300K 17,550 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲230K 17,500 ▲230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲230K 17,500 ▲230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲230K 17,500 ▲230K
NL 99.90 15,700 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲70K
Trang sức 99.9 16,690 ▲230K 17,390 ▲230K
Trang sức 99.99 16,700 ▲230K 17,400 ▲230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 173 ▼1532K 17,552 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 173 ▼1532K 17,553 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,727 ▲25K 1,752 ▲25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,727 ▲25K 1,753 ▲25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,707 ▲25K 1,737 ▲25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,548 ▼146457K 17,198 ▼152307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,538 ▲1875K 130,438 ▲1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,378 ▲1700K 118,278 ▲1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,218 ▲1526K 106,118 ▲1526K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,527 ▲83420K 101,427 ▲91430K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,369 ▼56279K 7,259 ▼64289K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 173 ▼1532K 1,755 ▲1582K
Cập nhật: 15/04/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18220 18495 19072
CAD 18589 18866 19480
CHF 33053 33439 34087
CNY 0 3800 3870
EUR 30410 30685 31715
GBP 34920 35313 36242
HKD 0 3229 3432
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15215 15801
SGD 20164 20448 20966
THB 738 802 855
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26153 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,614 30,639 31,903
JPY 161.64 161.93 170.67
GBP 35,203 35,298 36,294
AUD 18,467 18,534 19,122
CAD 18,826 18,886 19,461
CHF 33,383 33,487 34,272
SGD 20,340 20,403 21,080
CNY - 3,801 3,922
HKD 3,304 3,314 3,431
KRW 16.53 17.24 18.64
THB 787.12 796.84 847.9
NZD 15,241 15,383 15,746
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,097 4,215
NOK - 2,747 2,827
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,253.05 - 7,015.88
TWD 754.39 - 908.28
SAR - 6,919.93 7,243.71
KWD - 83,916 88,736
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26358
AUD 18412 18512 19438
CAD 18772 18872 19886
CHF 33313 33343 34926
CNY 3802 3827 3962.3
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30597 30627 32352
GBP 35231 35281 37039
HKD 0 3355 0
JPY 162.17 162.67 173.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15331 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20324 20454 21185
THB 0 768.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17550000
SBJ 15000000 15000000 17550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80