MSB tăng trưởng tín dụng 15%, chỉ tiêu tổng tài sản “về đích” sớm

(TBTCO) - Kết thúc 9 tháng 2025, MSB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 10.197 tỷ đồng, tăng 2,3% cùng kỳ, trong đó, thu nhập lãi thuần tăng tới 11,3% nhờ tăng trưởng tín dụng tích cực 15%. Nhờ đó, tổng tài sản của MSB cũng “về đích” sớm, đạt gần 356.000 tỷ đồng khi tăng 11%. Ngân hàng cũng ghi dấu bước tiến rõ nét trên hành trình phát triển bền vững.
aa
MSB tăng trưởng tín dụng trên 13%, đưa dư nợ tiến sát kế hoạch năm MSB chốt quyền hưởng cổ tức 20%, tăng vốn điều lệ lên 31.200 tỷ đồng Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB - mã Ck: MSB) vừa công bố báo cáo tài chính quý III/2025.

Báo cáo tài chính mới công bố cho thấy, 9 tháng 2025, MSB ghi nhận kết quả kinh doanh ổn định với lợi nhuận đạt trên 4.760 tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 356.000 tỷ đồng.

Trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng thu nhập hoạt động của MSB đạt 10.197 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập lãi thuần - nguồn đóng góp chính tăng 11,3% cùng kỳ, đạt 7.904 tỷ đồng.

Dù lãi suất huy động khá cao so với các năm trước và MSB vẫn đang cân đối lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng, nhưng với kinh nghiệm quản trị chi phí vốn hiệu quả, MSB giữ biên lãi thuần (NIM) 12 tháng gần nhất ở mức 3,45%.

Kết thúc 9 tháng, tổng thu nhập hoạt động của MSB đạt 10.197 tỷ đồng, tăng 2,3% cùng kỳ. Trong đó, thu nhập lãi thuần -nguồn đóng góp chủ lực tăng 11,3%, một phần nhờ tăng trưởng tín dụng đạt trên 15%. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của MSB đạt 4.760 tỷ đồng, phản ánh hiệu quả hoạt động ổn định ở các mảng cốt lõi được đảm bảo ổn định và từng bước tối ưu.

Bên cạnh đó, thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 12,7%, đạt 1.547,2 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng đồng đều ở các mảng thanh toán, ngân quỹ, ủy thác và đại lý. Giữ đà từ các quý trước, đây tiếp tục là mảng đóng góp tích cực vào cơ cấu thu nhập phi tín dụng của ngân hàng và góp phần hỗ trợ các hoạt động khác kém thuận lợi hơn.

Ở chiều chi phí, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 8,8% còn 1.572,3 tỷ đồng.

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB - mã Ck: MSB)
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Bên cạnh đó, tính đến cuối tháng 9/2025, tổng tài sản của MSB tăng 11% so với cuối năm 2024, đạt gần 356.000 tỷ đồng, bằng 101,7% kế hoạch đề ra (350.000 tỷ đồng). Hoạt động cho vay khách hàng tiếp tục là yếu tố thúc đẩy chính khi dư nợ cho vay đạt hơn 204.950 tỷ đồng, đưa tăng trưởng tín dụng đạt mức 15,1%, thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong bối cảnh thị trường có tín hiệu hồi phục.

Tiền gửi khách hàng đạt gần 183.400 tỷ đồng, tăng 19% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt hơn 51.000 tỷ đồng, tăng 25% so với cuối năm 2024 và chiếm 27,83% tổng huy động. Tỷ lệ CASA tiếp tục tăng quý thứ 4 liên tiếp, cho thấy nỗ lực của MSB trong việc nâng cao trải nghiệm số và khai thác hiệu quả tệp khách hàng thông qua chuỗi sản phẩm, dịch vụ thuận ích.

Tiền gửi có kỳ hạn tăng 16%, đạt gần 132.360 tỷ đồng, góp phần duy trì cơ cấu vốn ổn định và bền vững. Song song, phát hành giấy tờ có giá đạt gần 26.100 tỷ đồng, tăng 23% so với cuối năm 2024, hỗ trợ MSB đa dạng hóa nguồn vốn và tối ưu chi phí huy động.

Về quản trị rủi ro và các chỉ tiêu an toàn, tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất (CAR) cuối quý III/2025 của MSB đạt 12,18%; nợ xấu (NPL) riêng lẻ của MSB ở mức 1,9%, thấp hơn ngưỡng quy định của Ngân hàng Nhà nước và phản ánh mức độ ổn định trong kiểm soát chất lượng tín dụng.

Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) giảm từ 73,91% (quý II) xuống 71,31% (quý III), tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (MTLT) được kiểm soát ở mức 27,03%, đảm bảo thanh khoản an toàn và linh hoạt.

Hướng tới gia tăng quy mô hoạt động và tạo động lực phát triển các dự án chiến lược, vừa qua, MSB đã phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20% để trả cổ tức và sẽ hoàn thành việc tăng vốn lên 31.200 tỷ đồng trong quý cuối năm. Điều này không chỉ thể hiện cam kết đảm bảo quyền lợi cho cổ đông mà còn đánh dấu chặng đường phát triển mới của MSB với quy mô lớn hơn và tiềm năng tạo nên những bước đột phá.

Trong những năm gần đây, MSB là một trong các ngân hàng trả cổ tức đều đặn với tỷ lệ cổ tức cao trên thị trường. Đây cũng là cơ sở củng cố niềm tin và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư với cổ phiếu MSB.

Trong 9 tháng 2025, đặc biệt quý III/2025 cũng ghi dấu nhiều bước tiến của MSB trên hành trình phát triển bền vững. Ngân hàng xem đây không chỉ là bắt nhịp xu hướng toàn cầu, mà còn là tầm nhìn dài hạn và sự bắt buộc tuân thủ nhằm đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận, lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Vàng thế giới rơi dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce sau một tuần bán tháo mạnh, trong khi đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt giảm.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

(TBTCO) - Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động lan rộng. Khảo sát ngày 21/10 ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng hạ lãi suất kỳ hạn 12 tháng, mức giảm sâu nhất tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng", ước chiếm 3 - 5% dư nợ cho vay các ngân hàng, thay vì giảm đại trà.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30