Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tại họp báo công bố kết quả hoạt động quý III/2025, Ngân hàng Nhà nước cho biết, tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối tháng 9 đã tăng 13,37% so với cuối năm 2024 và dự kiến cả năm đạt 19 - 20%, mức cao nhất nhiều năm. Nhà điều hành nhấn mạnh tín dụng tăng phải đi đôi với kiểm soát chặt chất lượng nợ, tránh phát sinh rủi ro nợ xấu.
aa
Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Ngày 3/10, Ngân hàng Nhà nước tổ chức họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà chủ trì họp báo.

Tín dụng tăng 13,37% đến cuối tháng 9

Phát biểu tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà đánh giá, từ đầu năm 2025 đến nay, tình hình kinh tế - chính trị quốc tế diễn biến khó lường, cùng quan ngại của thị trường về các chính sách thuế quan của Mỹ và nguy cơ chiến tranh thương mại toàn cầu; xung đột địa chính trị. Các cú sốc giá cả hàng hóa; lạm phát mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại...

Các yếu tố này sẽ làm thị trường tài chính tiền tệ thế giới biến động phức tạp, tạo áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất trong nước cũng như việc thực hiện mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt trên 8% trở lên.

kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, đến ngày 29/9, tín dụng nền kinh tế tăng 13,37% so với cuối năm 2024. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Trong điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp để định hướng thị trường giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay. Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm.

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nhấn mạnh, với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng các tháng năm 2025 đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2024 và duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước. Đến ngày 29/9, tín dụng nền kinh tế tăng 13,37% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Trong điều hành tín dụng, để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng cung ứng nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, ngày 30/12/2024, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025, công khai nguyên tắc để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng tích cực triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư các dự án theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản quy mô ban đầu 15.000 tỷ đồng năm 2023, nâng dần qua các năm, mới đây nhất lên 185.000 tỷ đồng.

Cùng với đó là các chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội; cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP...

Công tác tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh, sự ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được giữ vững, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm. Nợ xấu được tập trung xử lý và kiểm soát trong bối cảnh nền kinh tế và sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Tín dụng cao nhưng phải gắn với chất lượng

Trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến tăng trưởng tín dụng nhằm hỗ trợ kinh tế đạt mức tăng trưởng trên 8%, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều công điện chỉ đạo nhằm hỗ trợ nền kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng.

"Dự kiến tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng khoảng 19 - 20%, ở mức cao trong nhiều năm trở lại đây. Tăng trưởng tín dụng cao một mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mặt khác, cần duy trì được chất lượng nợ, không phát sinh nợ xấu" - ông Quang lưu ý.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên làm việc với các tổ chức tín dụng, phân bổ tín dụng ở mức cao nhưng gắn với hiệu quả và chất lượng.

kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025
Toàn cảnh buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Tín dụng bất động sản tăng 19%, nhiều dự án tái khởi động

Riêng đối với lĩnh vực bất động sản, theo Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, đến cuối tháng 8 dư nợ đạt khoảng 4 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ. "Diễn biến này phù hợp với diễn biến thị trường trong thời gian gần đây, khi nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho bất động sản được triển khai, nhiều dự án tái khởi động trở lại, kéo theo tín dụng tăng theo" - bà Giang đánh giá.

Thông tin tại buổi họp báo, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, tín dụng đang tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong đó, tỷ trọng tín dụng đối với ba ngành kinh tế gồm: nông, lâm, thủy sản chiếm 6,23%; công nghiệp - xây dựng chiếm 23,97%; thương mại - dịch vụ chiếm 69,8%. Cùng kỳ năm 2024 lần lượt ở mức 6,84%; 25,65% và 67,51%.

Về cơ cấu chung, khoảng 78% dư nợ tín dụng tập trung phục vụ sản xuất kinh doanh, còn lại là tín dụng tiêu dùng, phục vụ đời sống.

Đối với nhà ở xã hội, lĩnh vực này nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương. Đến ngày 31/07/2025, các ngân hàng đã cam kết cho vay hơn 8.600 tỷ đồng, doanh số giải ngân của chương trình cho vay nhà ở xã hội đạt 4.577,8 tỷ đồng, tăng hơn 60% so với cuối năm 2024.

"Dù con số này vẫn còn khiêm tốn so với quy mô thị trường, nhưng giải ngân đã được cải thiện rõ rệt, tăng 66% so với cuối năm 2024. Nhiều dự án đang chuẩn bị khởi công, tiến độ giải ngân sẽ tiếp tục tăng theo" - bà Giang đánh giá.

Đối với gói tín dụng 500.000 tỷ đồng cho vay đầu tư hạ tầng, công nghệ số, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại chủ động, tích cực triển khai và sẵn sàng nguồn vốn. Tuy nhiên, để giải ngân hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương. Hiện chỉ còn chờ ý kiến thống nhất cuối cùng của 01 bộ, sau đó sẽ triển khai đồng bộ trên toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80