Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá nhà tại Việt Nam tăng vượt xa tốc độ thu nhập, đẩy hệ số giá nhà/thu nhập lên 27,3 lần, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Dòng tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản, bỏ xa các lĩnh vực sản xuất.
aa
Bất động sản vẫn là “đầu kéo” tín dụng Giấc mơ an cư xa tầm với, chuyên gia nêu 6 yếu tố cản trở thị trường bất động sản Ngân hàng Nhà nước chặn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền từ công ty con, thị trường bất động sản 18 "ông lớn" bất động sản được đề xuất chỉ định làm nhà ở xã hội

Giấc mơ an cư ngày càng xa

Hệ số giá nhà trên thu nhập của Việt Nam hiện ở mức "nghẹt thở" so với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo xếp hạng của Numbeo (website lớn trong mảng dữ liệu về giá cả trên toàn cầu), giữa năm 2025, chỉ số này lên mức 27,3 lần, tức giá một căn hộ trung bình cao gấp hơn 27 năm thu nhập bình quân của một hộ gia đình.

Đó là trong điều kiện gia đình ấy phải dành trọn vẹn mọi đồng tiền kiếm được, không ăn, không mặc, không nuôi con, không dưỡng già... Còn nếu tuân theo nguyên tắc tài chính an toàn, chỉ dành tối đa một phần ba thu nhập cho nhà ở, thì một hộ gia đình phải mất tới 80 năm dành dụm mới mua nổi một căn nhà bình thường. Như vậy, với phần đông người dân, giấc mơ “an cư lạc nghiệp” vẫn là mục tiêu xa vời.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản
Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản. Ảnh minh hoạ.

Báo cáo từ Bộ Xây dựng cho thấy, trong 9 tháng năm 2025, giá bán căn hộ chung cư tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao. Tại Hà Nội, giá sơ cấp trung bình là 70 - 80 triệu đồng/m2, tăng 33% so với cùng kỳ. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá sơ cấp trung bình khoảng 75 triệu đồng/m2, tăng 36%. Giá nhà tăng quá sức tưởng tượng đối với túi tiền của một hộ gia đình bình thường.

Cuộc đua không cân sức giữa thu nhập và giá nhà

Theo tính toán từ SHS, từ năm 2014 đến giữa năm 2025, thu nhập bình quân đầu người tại Hà Nội tăng từ 4,11 triệu đồng/tháng lên 8,3 triệu đồng/tháng, tức gấp 2 lần sau hơn một thập kỷ, với tốc độ tăng trung bình 6,4%/năm.

Trong cùng khoảng thời gian đó, giá căn hộ trung bình leo từ 25 triệu đồng/m2 lên 75,5 triệu đồng/m2, tức tăng hơn gấp 3, với tốc độ gần 12%/năm.

Trong báo cáo về "Giá nhà và Giấc mơ an cư của người Việt" mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) cho rằng, trong mỗi đợt sóng tăng giá bất động sản, luôn có "kẻ hưởng lợi" và "người chịu thiệt".

Theo đó, các định chế tài chính thường nằm ở phía được lợi, bởi giá tài sản tăng giúp bảng cân đối của ngân hàng an toàn hơn, rủi ro nợ xấu giảm bớt, đồng thời họ có thêm dư địa mở rộng tín dụng nhờ tài sản thế chấp cao hơn.

Giá trị căn nhà tăng, chủ sở hữu nhà cũng hưởng lợi, có thể vay thế chấp lại để chi tiêu hoặc đầu tư, tạo thêm vòng xoáy mở rộng tài sản. Chính quyền địa phương, nhờ thuế và phí, cũng thấy ngân sách nở thêm theo giá đất.

Ở phía ngược lại, những người đi thuê, người mua nhà lần đầu, lại oằn mình trước áp lực giá. Khi giá vượt quá xa thu nhập, giấc mơ sở hữu một mái nhà trở nên mong manh, thậm chí chỉ dừng ở mức thuê tạm, chứ chưa dám nghĩ tới an cư lâu dài.

Ở tầm vĩ mô, sự chênh lệch này bào mòn tính cân đối khi thanh khoản thị trường giảm, nguy cơ tăng trưởng quá nóng hình thành và bất bình đẳng xã hội càng bị khoét sâu. Bất động sản leo thang, hóa ra lại là chiếc thước đo phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Nếu giá nhà hạ nhiệt, bức tranh lập tức đổi chiều.

Một điểm ít được chú ý, đó là vòng quay tín dụng bất động sản vốn rất chậm. Bởi vay mua nhà, vay dự án thường kéo dài 10 - 20 năm; đồng vốn nằm yên trong tài sản cố định, khó quay vòng. Trong khi đó, vốn vay cho sản xuất, kinh doanh xoay chuyển nhanh, mỗi năm qua nhiều chu kỳ, tạo lực đẩy trực tiếp cho GDP.

Giá nhà leo dốc “kích” tín dụng

Một số ý kiến cho rằng, do các định chế tài chính được hưởng lợi, nên việc nâng giá bất động sản được xem như một trong những cách để "kích" tín dụng.

Đơn cử, khi căn hộ được định giá 5 tỷ đồng, ngân hàng có thể cho vay 70%, tức 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu giá bị đẩy lên 10 tỷ đồng, hạn mức vay tăng thành 7 tỷ đồng, từ đó, tín dụng cũng phình ra. Bên cạnh đó, thời gian gần đây, nhiều ngân hàng phối hợp với doanh nghiệp bất động sản để nâng giá, thông qua các gói vay hấp dẫn như miễn lãi, hoãn trả gốc 2 - 3 năm đầu.

Cách làm này mang lại lợi ích "kép", đó là ngân hàng dễ đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng nhờ giá tài sản cao, còn doanh nghiệp bất động sản hút được nhà đầu cơ nhờ đòn bẩy lớn và không phải chịu áp lực trả nợ ban đầu. Nếu giá nhà tăng 10% trong 2 - 3 năm, nhà đầu cơ dùng đòn bẩy tài chính là vốn vay ngân hàng thì có thể lãi tới hơn 33,3% trên vốn bỏ ra; còn nếu giá tăng 30%, lợi nhuận có thể gấp đôi. Chính cơ chế này khiến thị trường "quay cuồng" theo giá bất động sản.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Bên cạnh đó, thời gian qua, dư nợ cho vay bất động sản tại nhiều ngân hàng tăng mạnh do áp lực tái cơ cấu các lô trái phiếu đến hạn. Theo ghi nhận, tỷ trọng vốn trái phiếu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bất động sản niêm yết giảm từ khoảng 60% ở thời kỳ đỉnh cao, co hẹp còn 11% tính đến tháng 8/2024 và hồi phục lên 36% vào cuối tháng 8/2025, theo tính toán của FiinRatings.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận định, việc phát hành trái phiếu mới khó hơn khi thị trường trái phiếu thanh lọc, chỉ những "ông lớn" mới có cơ hội tiếp cận. Hệ quả là các khoản trái phiếu cũ buộc phải cơ cấu lại và nguồn vốn thay thế chủ yếu đến từ ngân hàng dựa trên tài sản bảo đảm và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Trong 2 năm tới, áp lực đáo hạn trái phiếu vẫn rất lớn, điều này đồng nghĩa xu hướng tín dụng tiếp tục chảy mạnh vào địa ốc gần như khó tránh khỏi.

Dòng vốn nghiêng về bất động sản, vượt xa các lĩnh vực sản xuất

Bên cạnh đó, tín dụng cho sản xuất kinh doanh thuần túy tăng rất chậm. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối quý II/2025, tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 6,4% so với cuối năm 2024; hoạt động thương mại, vận tải và viễn thông tăng 8,24%... Còn cho vay kinh doanh bất động sản tăng 13%.

Thực tế, tín dụng đang tăng tốc vào bất động sản. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến hết ngày 31/7, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 4,08 triệu tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,68% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Trong đó, khoảng 1,79 triệu tỷ đồng là cho vay kinh doanh bất động sản, tăng 23,87% so với cuối 2024, nhanh hơn nhiều so với mức tăng tín dụng chung.

Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, xu hướng còn rõ hơn. Chỉ trong 6 tháng, cho vay kinh doanh bất động sản đã tăng gần 20%, cao hơn hẳn so với công nghiệp chế biến hay thương mại. Các báo cáo ngành cũng xác nhận, vốn chủ yếu đang tìm đến chủ đầu tư dự án để hoàn thiện công trình, thay vì chảy thẳng vào tay người mua nhà.

"Khi thị trường khó khăn, doanh nghiệp co lại, còn bất động sản có thể trở thành “đầu tàu” nhen nhóm phục hồi" - chuyên gia SHS nhận định.

Theo nhóm phân tích SHS, không phải bất động sản "cướp" phần của sản xuất, mà là khu vực sản xuất chưa đủ sức ăn hết "miếng bánh" tín dụng đó. Khi triển vọng thị trường chưa sáng rõ, doanh nghiệp chưa muốn mạo hiểm, dù vốn có sẵn và lãi suất thấp.

Ông Nguyễn Ngọc Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) từng giãi bày, vốn không còn khó, cái khó là doanh nghiệp không cần vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,220 ▲20K 15,420 ▲20K
Nguyên Liệu 99.9 15,170 ▲20K 15,370 ▲20K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,100 ▲50K 16,500 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,980 ▲50K 16,430 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,280 ▼20K 16,580 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 16,280 ▼20K 16,580 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 16,280 ▼20K 16,580 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▼50K 16,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▼50K 16,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▼50K 16,550 ▼50K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,740 ▼50K 16,440 ▼50K
Trang sức 99.99 15,750 ▼50K 16,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,633 ▲1470K 16,632 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,633 ▲1470K 16,633 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,628 ▲3K 1,658 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,628 ▲3K 1,659 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,608 ▲3K 1,643 ▲1479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 156,173 ▲297K 162,673 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,487 ▲225K 123,387 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,985 ▲204K 111,885 ▲204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,483 ▲90570K 100,383 ▲99381K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,046 ▲174K 95,946 ▲174K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,977 ▼53668K 6,867 ▼61678K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 ▲1470K 1,663 ▲1497K
Cập nhật: 04/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18412 18688 19267
CAD 18827 19105 19719
CHF 32974 33360 34005
CNY 0 3815 3907
EUR 30221 30495 31523
GBP 34898 35291 36228
HKD 0 3232 3434
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15220 15808
SGD 20121 20404 20921
THB 724 788 841
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,147 26,147 26,367
USD(1-2-5) 25,102 - -
USD(10-20) 25,102 - -
EUR 30,457 30,481 31,741
JPY 163.8 164.1 172.92
GBP 35,233 35,328 36,324
AUD 18,657 18,724 19,323
CAD 19,066 19,127 19,711
CHF 33,400 33,504 34,280
SGD 20,317 20,380 21,056
CNY - 3,794 3,914
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.61 17.32 18.72
THB 776.29 785.88 836.23
NZD 15,266 15,408 15,772
SEK - 2,815 2,897
DKK - 4,076 4,194
NOK - 2,799 2,880
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,247.44 - 7,009.57
TWD 755.05 - 908.5
SAR - 6,924.04 7,248.01
KWD - 83,925 88,746
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,147 26,367
EUR 30,310 30,432 31,615
GBP 35,144 35,285 36,298
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,118 33,251 34,195
JPY 163.85 164.51 171.99
AUD 18,625 18,700 19,297
SGD 20,329 20,411 20,996
THB 790 793 828
CAD 19,026 19,102 19,683
NZD 15,299 15,833
KRW 17.16 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26367
AUD 18599 18699 19627
CAD 19005 19105 20122
CHF 33218 33248 34830
CNY 3797.2 3822.2 3958.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30403 30433 32158
GBP 35204 35254 37017
HKD 0 3355 0
JPY 164.26 164.76 175.27
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15330 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20274 20404 21137
THB 0 753.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16330000 16330000 16630000
SBJ 14000000 14000000 16630000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,367
USD20 26,170 26,220 26,367
USD1 23,857 26,220 26,367
AUD 18,675 18,775 19,895
EUR 30,581 30,581 32,007
CAD 18,976 19,076 20,395
SGD 20,383 20,533 21,109
JPY 164.81 166.31 170.95
GBP 35,172 35,522 36,405
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,707 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80