Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá nhà tại Việt Nam tăng vượt xa tốc độ thu nhập, đẩy hệ số giá nhà/thu nhập lên 27,3 lần, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Dòng tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản, bỏ xa các lĩnh vực sản xuất.
aa
Bất động sản vẫn là “đầu kéo” tín dụng Giấc mơ an cư xa tầm với, chuyên gia nêu 6 yếu tố cản trở thị trường bất động sản Ngân hàng Nhà nước chặn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền từ công ty con, thị trường bất động sản 18 "ông lớn" bất động sản được đề xuất chỉ định làm nhà ở xã hội

Giấc mơ an cư ngày càng xa

Hệ số giá nhà trên thu nhập của Việt Nam hiện ở mức "nghẹt thở" so với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo xếp hạng của Numbeo (website lớn trong mảng dữ liệu về giá cả trên toàn cầu), giữa năm 2025, chỉ số này lên mức 27,3 lần, tức giá một căn hộ trung bình cao gấp hơn 27 năm thu nhập bình quân của một hộ gia đình.

Đó là trong điều kiện gia đình ấy phải dành trọn vẹn mọi đồng tiền kiếm được, không ăn, không mặc, không nuôi con, không dưỡng già... Còn nếu tuân theo nguyên tắc tài chính an toàn, chỉ dành tối đa một phần ba thu nhập cho nhà ở, thì một hộ gia đình phải mất tới 80 năm dành dụm mới mua nổi một căn nhà bình thường. Như vậy, với phần đông người dân, giấc mơ “an cư lạc nghiệp” vẫn là mục tiêu xa vời.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản
Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản. Ảnh minh hoạ.

Báo cáo từ Bộ Xây dựng cho thấy, trong 9 tháng năm 2025, giá bán căn hộ chung cư tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao. Tại Hà Nội, giá sơ cấp trung bình là 70 - 80 triệu đồng/m2, tăng 33% so với cùng kỳ. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá sơ cấp trung bình khoảng 75 triệu đồng/m2, tăng 36%. Giá nhà tăng quá sức tưởng tượng đối với túi tiền của một hộ gia đình bình thường.

Cuộc đua không cân sức giữa thu nhập và giá nhà

Theo tính toán từ SHS, từ năm 2014 đến giữa năm 2025, thu nhập bình quân đầu người tại Hà Nội tăng từ 4,11 triệu đồng/tháng lên 8,3 triệu đồng/tháng, tức gấp 2 lần sau hơn một thập kỷ, với tốc độ tăng trung bình 6,4%/năm.

Trong cùng khoảng thời gian đó, giá căn hộ trung bình leo từ 25 triệu đồng/m2 lên 75,5 triệu đồng/m2, tức tăng hơn gấp 3, với tốc độ gần 12%/năm.

Trong báo cáo về "Giá nhà và Giấc mơ an cư của người Việt" mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) cho rằng, trong mỗi đợt sóng tăng giá bất động sản, luôn có "kẻ hưởng lợi" và "người chịu thiệt".

Theo đó, các định chế tài chính thường nằm ở phía được lợi, bởi giá tài sản tăng giúp bảng cân đối của ngân hàng an toàn hơn, rủi ro nợ xấu giảm bớt, đồng thời họ có thêm dư địa mở rộng tín dụng nhờ tài sản thế chấp cao hơn.

Giá trị căn nhà tăng, chủ sở hữu nhà cũng hưởng lợi, có thể vay thế chấp lại để chi tiêu hoặc đầu tư, tạo thêm vòng xoáy mở rộng tài sản. Chính quyền địa phương, nhờ thuế và phí, cũng thấy ngân sách nở thêm theo giá đất.

Ở phía ngược lại, những người đi thuê, người mua nhà lần đầu, lại oằn mình trước áp lực giá. Khi giá vượt quá xa thu nhập, giấc mơ sở hữu một mái nhà trở nên mong manh, thậm chí chỉ dừng ở mức thuê tạm, chứ chưa dám nghĩ tới an cư lâu dài.

Ở tầm vĩ mô, sự chênh lệch này bào mòn tính cân đối khi thanh khoản thị trường giảm, nguy cơ tăng trưởng quá nóng hình thành và bất bình đẳng xã hội càng bị khoét sâu. Bất động sản leo thang, hóa ra lại là chiếc thước đo phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Nếu giá nhà hạ nhiệt, bức tranh lập tức đổi chiều.

Một điểm ít được chú ý, đó là vòng quay tín dụng bất động sản vốn rất chậm. Bởi vay mua nhà, vay dự án thường kéo dài 10 - 20 năm; đồng vốn nằm yên trong tài sản cố định, khó quay vòng. Trong khi đó, vốn vay cho sản xuất, kinh doanh xoay chuyển nhanh, mỗi năm qua nhiều chu kỳ, tạo lực đẩy trực tiếp cho GDP.

Giá nhà leo dốc “kích” tín dụng

Một số ý kiến cho rằng, do các định chế tài chính được hưởng lợi, nên việc nâng giá bất động sản được xem như một trong những cách để "kích" tín dụng.

Đơn cử, khi căn hộ được định giá 5 tỷ đồng, ngân hàng có thể cho vay 70%, tức 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu giá bị đẩy lên 10 tỷ đồng, hạn mức vay tăng thành 7 tỷ đồng, từ đó, tín dụng cũng phình ra. Bên cạnh đó, thời gian gần đây, nhiều ngân hàng phối hợp với doanh nghiệp bất động sản để nâng giá, thông qua các gói vay hấp dẫn như miễn lãi, hoãn trả gốc 2 - 3 năm đầu.

Cách làm này mang lại lợi ích "kép", đó là ngân hàng dễ đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng nhờ giá tài sản cao, còn doanh nghiệp bất động sản hút được nhà đầu cơ nhờ đòn bẩy lớn và không phải chịu áp lực trả nợ ban đầu. Nếu giá nhà tăng 10% trong 2 - 3 năm, nhà đầu cơ dùng đòn bẩy tài chính là vốn vay ngân hàng thì có thể lãi tới hơn 33,3% trên vốn bỏ ra; còn nếu giá tăng 30%, lợi nhuận có thể gấp đôi. Chính cơ chế này khiến thị trường "quay cuồng" theo giá bất động sản.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Bên cạnh đó, thời gian qua, dư nợ cho vay bất động sản tại nhiều ngân hàng tăng mạnh do áp lực tái cơ cấu các lô trái phiếu đến hạn. Theo ghi nhận, tỷ trọng vốn trái phiếu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bất động sản niêm yết giảm từ khoảng 60% ở thời kỳ đỉnh cao, co hẹp còn 11% tính đến tháng 8/2024 và hồi phục lên 36% vào cuối tháng 8/2025, theo tính toán của FiinRatings.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận định, việc phát hành trái phiếu mới khó hơn khi thị trường trái phiếu thanh lọc, chỉ những "ông lớn" mới có cơ hội tiếp cận. Hệ quả là các khoản trái phiếu cũ buộc phải cơ cấu lại và nguồn vốn thay thế chủ yếu đến từ ngân hàng dựa trên tài sản bảo đảm và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Trong 2 năm tới, áp lực đáo hạn trái phiếu vẫn rất lớn, điều này đồng nghĩa xu hướng tín dụng tiếp tục chảy mạnh vào địa ốc gần như khó tránh khỏi.

Dòng vốn nghiêng về bất động sản, vượt xa các lĩnh vực sản xuất

Bên cạnh đó, tín dụng cho sản xuất kinh doanh thuần túy tăng rất chậm. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối quý II/2025, tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 6,4% so với cuối năm 2024; hoạt động thương mại, vận tải và viễn thông tăng 8,24%... Còn cho vay kinh doanh bất động sản tăng 13%.

Thực tế, tín dụng đang tăng tốc vào bất động sản. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến hết ngày 31/7, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 4,08 triệu tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,68% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Trong đó, khoảng 1,79 triệu tỷ đồng là cho vay kinh doanh bất động sản, tăng 23,87% so với cuối 2024, nhanh hơn nhiều so với mức tăng tín dụng chung.

Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, xu hướng còn rõ hơn. Chỉ trong 6 tháng, cho vay kinh doanh bất động sản đã tăng gần 20%, cao hơn hẳn so với công nghiệp chế biến hay thương mại. Các báo cáo ngành cũng xác nhận, vốn chủ yếu đang tìm đến chủ đầu tư dự án để hoàn thiện công trình, thay vì chảy thẳng vào tay người mua nhà.

"Khi thị trường khó khăn, doanh nghiệp co lại, còn bất động sản có thể trở thành “đầu tàu” nhen nhóm phục hồi" - chuyên gia SHS nhận định.

Theo nhóm phân tích SHS, không phải bất động sản "cướp" phần của sản xuất, mà là khu vực sản xuất chưa đủ sức ăn hết "miếng bánh" tín dụng đó. Khi triển vọng thị trường chưa sáng rõ, doanh nghiệp chưa muốn mạo hiểm, dù vốn có sẵn và lãi suất thấp.

Ông Nguyễn Ngọc Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) từng giãi bày, vốn không còn khó, cái khó là doanh nghiệp không cần vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17630 17903 18478
CAD 17970 18245 18862
CHF 31821 32202 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29301 29521 30602
GBP 33905 34295 35228
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15136
SGD 19762 20044 20614
THB 704 767 821
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80