Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá nhà tại Việt Nam tăng vượt xa tốc độ thu nhập, đẩy hệ số giá nhà/thu nhập lên 27,3 lần, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Dòng tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản, bỏ xa các lĩnh vực sản xuất.
aa
Bất động sản vẫn là “đầu kéo” tín dụng Giấc mơ an cư xa tầm với, chuyên gia nêu 6 yếu tố cản trở thị trường bất động sản Ngân hàng Nhà nước chặn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền từ công ty con, thị trường bất động sản 18 "ông lớn" bất động sản được đề xuất chỉ định làm nhà ở xã hội

Giấc mơ an cư ngày càng xa

Hệ số giá nhà trên thu nhập của Việt Nam hiện ở mức "nghẹt thở" so với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo xếp hạng của Numbeo (website lớn trong mảng dữ liệu về giá cả trên toàn cầu), giữa năm 2025, chỉ số này lên mức 27,3 lần, tức giá một căn hộ trung bình cao gấp hơn 27 năm thu nhập bình quân của một hộ gia đình.

Đó là trong điều kiện gia đình ấy phải dành trọn vẹn mọi đồng tiền kiếm được, không ăn, không mặc, không nuôi con, không dưỡng già... Còn nếu tuân theo nguyên tắc tài chính an toàn, chỉ dành tối đa một phần ba thu nhập cho nhà ở, thì một hộ gia đình phải mất tới 80 năm dành dụm mới mua nổi một căn nhà bình thường. Như vậy, với phần đông người dân, giấc mơ “an cư lạc nghiệp” vẫn là mục tiêu xa vời.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản
Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản. Ảnh minh hoạ.

Báo cáo từ Bộ Xây dựng cho thấy, trong 9 tháng năm 2025, giá bán căn hộ chung cư tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao. Tại Hà Nội, giá sơ cấp trung bình là 70 - 80 triệu đồng/m2, tăng 33% so với cùng kỳ. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá sơ cấp trung bình khoảng 75 triệu đồng/m2, tăng 36%. Giá nhà tăng quá sức tưởng tượng đối với túi tiền của một hộ gia đình bình thường.

Cuộc đua không cân sức giữa thu nhập và giá nhà

Theo tính toán từ SHS, từ năm 2014 đến giữa năm 2025, thu nhập bình quân đầu người tại Hà Nội tăng từ 4,11 triệu đồng/tháng lên 8,3 triệu đồng/tháng, tức gấp 2 lần sau hơn một thập kỷ, với tốc độ tăng trung bình 6,4%/năm.

Trong cùng khoảng thời gian đó, giá căn hộ trung bình leo từ 25 triệu đồng/m2 lên 75,5 triệu đồng/m2, tức tăng hơn gấp 3, với tốc độ gần 12%/năm.

Trong báo cáo về "Giá nhà và Giấc mơ an cư của người Việt" mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) cho rằng, trong mỗi đợt sóng tăng giá bất động sản, luôn có "kẻ hưởng lợi" và "người chịu thiệt".

Theo đó, các định chế tài chính thường nằm ở phía được lợi, bởi giá tài sản tăng giúp bảng cân đối của ngân hàng an toàn hơn, rủi ro nợ xấu giảm bớt, đồng thời họ có thêm dư địa mở rộng tín dụng nhờ tài sản thế chấp cao hơn.

Giá trị căn nhà tăng, chủ sở hữu nhà cũng hưởng lợi, có thể vay thế chấp lại để chi tiêu hoặc đầu tư, tạo thêm vòng xoáy mở rộng tài sản. Chính quyền địa phương, nhờ thuế và phí, cũng thấy ngân sách nở thêm theo giá đất.

Ở phía ngược lại, những người đi thuê, người mua nhà lần đầu, lại oằn mình trước áp lực giá. Khi giá vượt quá xa thu nhập, giấc mơ sở hữu một mái nhà trở nên mong manh, thậm chí chỉ dừng ở mức thuê tạm, chứ chưa dám nghĩ tới an cư lâu dài.

Ở tầm vĩ mô, sự chênh lệch này bào mòn tính cân đối khi thanh khoản thị trường giảm, nguy cơ tăng trưởng quá nóng hình thành và bất bình đẳng xã hội càng bị khoét sâu. Bất động sản leo thang, hóa ra lại là chiếc thước đo phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Nếu giá nhà hạ nhiệt, bức tranh lập tức đổi chiều.

Một điểm ít được chú ý, đó là vòng quay tín dụng bất động sản vốn rất chậm. Bởi vay mua nhà, vay dự án thường kéo dài 10 - 20 năm; đồng vốn nằm yên trong tài sản cố định, khó quay vòng. Trong khi đó, vốn vay cho sản xuất, kinh doanh xoay chuyển nhanh, mỗi năm qua nhiều chu kỳ, tạo lực đẩy trực tiếp cho GDP.

Giá nhà leo dốc “kích” tín dụng

Một số ý kiến cho rằng, do các định chế tài chính được hưởng lợi, nên việc nâng giá bất động sản được xem như một trong những cách để "kích" tín dụng.

Đơn cử, khi căn hộ được định giá 5 tỷ đồng, ngân hàng có thể cho vay 70%, tức 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu giá bị đẩy lên 10 tỷ đồng, hạn mức vay tăng thành 7 tỷ đồng, từ đó, tín dụng cũng phình ra. Bên cạnh đó, thời gian gần đây, nhiều ngân hàng phối hợp với doanh nghiệp bất động sản để nâng giá, thông qua các gói vay hấp dẫn như miễn lãi, hoãn trả gốc 2 - 3 năm đầu.

Cách làm này mang lại lợi ích "kép", đó là ngân hàng dễ đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng nhờ giá tài sản cao, còn doanh nghiệp bất động sản hút được nhà đầu cơ nhờ đòn bẩy lớn và không phải chịu áp lực trả nợ ban đầu. Nếu giá nhà tăng 10% trong 2 - 3 năm, nhà đầu cơ dùng đòn bẩy tài chính là vốn vay ngân hàng thì có thể lãi tới hơn 33,3% trên vốn bỏ ra; còn nếu giá tăng 30%, lợi nhuận có thể gấp đôi. Chính cơ chế này khiến thị trường "quay cuồng" theo giá bất động sản.

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Bên cạnh đó, thời gian qua, dư nợ cho vay bất động sản tại nhiều ngân hàng tăng mạnh do áp lực tái cơ cấu các lô trái phiếu đến hạn. Theo ghi nhận, tỷ trọng vốn trái phiếu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bất động sản niêm yết giảm từ khoảng 60% ở thời kỳ đỉnh cao, co hẹp còn 11% tính đến tháng 8/2024 và hồi phục lên 36% vào cuối tháng 8/2025, theo tính toán của FiinRatings.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận định, việc phát hành trái phiếu mới khó hơn khi thị trường trái phiếu thanh lọc, chỉ những "ông lớn" mới có cơ hội tiếp cận. Hệ quả là các khoản trái phiếu cũ buộc phải cơ cấu lại và nguồn vốn thay thế chủ yếu đến từ ngân hàng dựa trên tài sản bảo đảm và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Trong 2 năm tới, áp lực đáo hạn trái phiếu vẫn rất lớn, điều này đồng nghĩa xu hướng tín dụng tiếp tục chảy mạnh vào địa ốc gần như khó tránh khỏi.

Dòng vốn nghiêng về bất động sản, vượt xa các lĩnh vực sản xuất

Bên cạnh đó, tín dụng cho sản xuất kinh doanh thuần túy tăng rất chậm. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối quý II/2025, tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 6,4% so với cuối năm 2024; hoạt động thương mại, vận tải và viễn thông tăng 8,24%... Còn cho vay kinh doanh bất động sản tăng 13%.

Thực tế, tín dụng đang tăng tốc vào bất động sản. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến hết ngày 31/7, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 4,08 triệu tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2024 và chiếm 23,68% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Trong đó, khoảng 1,79 triệu tỷ đồng là cho vay kinh doanh bất động sản, tăng 23,87% so với cuối 2024, nhanh hơn nhiều so với mức tăng tín dụng chung.

Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, xu hướng còn rõ hơn. Chỉ trong 6 tháng, cho vay kinh doanh bất động sản đã tăng gần 20%, cao hơn hẳn so với công nghiệp chế biến hay thương mại. Các báo cáo ngành cũng xác nhận, vốn chủ yếu đang tìm đến chủ đầu tư dự án để hoàn thiện công trình, thay vì chảy thẳng vào tay người mua nhà.

"Khi thị trường khó khăn, doanh nghiệp co lại, còn bất động sản có thể trở thành “đầu tàu” nhen nhóm phục hồi" - chuyên gia SHS nhận định.

Theo nhóm phân tích SHS, không phải bất động sản "cướp" phần của sản xuất, mà là khu vực sản xuất chưa đủ sức ăn hết "miếng bánh" tín dụng đó. Khi triển vọng thị trường chưa sáng rõ, doanh nghiệp chưa muốn mạo hiểm, dù vốn có sẵn và lãi suất thấp.

Ông Nguyễn Ngọc Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) từng giãi bày, vốn không còn khó, cái khó là doanh nghiệp không cần vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,690 ▼30K 14,290 ▼30K
Trang sức 99.99 13,700 ▼30K 14,300 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1239K 1,415 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼594K 140,099 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼450K 106,286 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼78330K 9,638 ▼87150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▲68970K 86,474 ▲77790K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼350K 82,653 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▼251K 59,161 ▼251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 11/08/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,961 26,011 26,320
USD20 25,911 26,011 26,741
USD1 25,861 26,011 26,791
AUD 18,128 18,228 19,332
EUR 29,492 29,592 31,251
CAD 18,345 18,445 19,752
SGD 20,096 20,246 20,800
JPY 161.04 162.54 168.07
GBP 34,672 34,822 35,889
XAU 14,248,000 0 14,552,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80