MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Ánh Tuyết
Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
aa
Dự báo USD mạnh lên tạm thời vì xung đột Trung Đông, tỷ giá USD/VND biến động 2 - 3% Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến CPI 2 tháng đầu năm tăng gần 3%, áp lực lạm phát gia tăng

Giá năng lượng leo thang, lạm phát đối mặt sức ép mới

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 3/2026 vừa phát hành Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận định, bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới.

Theo phân tích của MBS, trong 2 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,94% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 3,3% của cùng kỳ năm ngoái. Đà tăng của lạm phát được kiểm soát nhờ giá xăng dầu giảm 9% so với cùng kỳ.

Khi xung đột khu vực Trung Đông leo thang vào cuối tháng 2/2026, giá năng lượng thế giới lập tức tăng vọt, cụ thể trung bình giá dầu Brent trong nửa đầu tháng 3 đã tăng 31,3% so với cùng kỳ năm ngoái, có thời điểm xấp xỉ 120 USD/thùng, cao nhất trong vòng 4 năm qua.

Trong nước, giá xăng RON 95 trung bình trong nửa đầu tháng 3 đã tăng 31% so với đầu năm và 21% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xăng dầu tăng đồng thời cũng sẽ gây áp lực lên chi phí sản xuất và giá cả thực phẩm trong các tháng tới.

Ngoài ra, chỉ số CPI cũng đối mặt với áp lực từ các yếu tố khác. Theo đó, chỉ số giá điện duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thực hiện điều chỉnh tăng giá từ tháng 5/2025.

Cùng với đó, giá vật liệu xây dựng sẽ tăng nhẹ do nhu cầu triển khai các công trình hạ tầng và bất động sản dân cư tăng mạnh, trong đó giá thép được dự báo tăng 7% so với cùng kỳ. Các tác động của yếu tố tỷ giá và tăng trưởng tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 sẽ dần phản ánh vào giá cả hàng hóa của năm 2026.

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

"Chúng tôi dự báo lạm phát cơ bản có thể tăng lên mức 4,3 - 4,5% trong tháng 3 và tháng 4, trong kịch bản cơ sở giá xăng dầu trong nước trung bình ở mức 24.800 - 24.900 đồng/lít. Theo đó, CPI bình quân năm 2026 có thể tăng lên mức 4 - 4,3% so với cùng kỳ" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Trong ngắn hạn, việc chi phí vận chuyển tăng mạnh cộng hưởng với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi mạnh, cũng sẽ làm gia tăng rủi ro về nhập khẩu lạm phát.

Tỷ giá dự báo tiếp tục đi lên 2,5 - 3%

Cùng với đó, áp lực tỷ giá cũng gia tăng khi chỉ số DXY - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 loại ngoại tệ chính - đã bật lên trên mức 100 điểm từ sau xung đột, đến giữa tháng 3/2026 neo ở mức đỉnh 10 tháng tại 100,36 điểm (tăng 2,1% kể từ đầu năm).

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông. Ảnh minh họa.
"Đồng USD cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất thêm vài tháng nữa, thậm chí, một số quan chức Fed bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng. Theo đó, chúng tôi cho rằng tỷ giá sẽ tăng 2,5 - 3% trong năm 2026" - MBS dự báo.

Bên cạnh đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được dự đoán khó có thể giảm lãi suất trong nửa đầu năm 2026 khi lạm phát có xu hướng quay trở lại trong bối cảnh giá năng lượng và nguyên vật liệu gia tăng.

Theo biên bản cuộc họp của trong tháng 1, một số quan chức còn bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng. Đà tăng giá của USD cũng được thúc đẩy nhờ nhu cầu về tài sản trú ẩn tăng trở lại khi xung đột Mỹ - Iran nổ ra.

Theo nhóm phân tích MBS, vẫn còn nhiều áp lực lên tỷ giá trong năm 2026. Theo đó, dự báo nhập khẩu sẽ tăng trưởng đồng tốc với xuất khẩu trong năm 2026, chủ yếu do tăng trưởng nhập khẩu từ Mỹ dự kiến tiếp tục tăng khi Việt Nam cần tiếp tục thu hẹp thặng dư thương mại tại thị trường này. Trên thực tế, cán cân thương mại hàng hóa tới nay đã ghi nhận 3 tháng nhập siêu liên tiếp và lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 nhập siêu gần 3 tỷ USD.

Cùng với đó, giá vàng quốc tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng lên ngưỡng 6.000 - 6.300 USD/ounce trong năm nay khi căng thẳng Trung Đông leo thang khiến nhu cầu về tài sản trú ẩn của nhà đầu tư tăng cao. Nhu cầu nhập khẩu vàng tăng cũng sẽ tạo áp lực lên tỷ giá trong nước.

Việc DXY đảo chiều tăng trở lại khi vai trò tài sản trú ẩn được phục hồi, sẽ tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong thời gian tới.

Nhóm phân tích MBS dự báo tỷ giá USD/VND sẽ dao động quanh mức 26.200 - 26.400, tăng 0,5% so với đầu năm, trong quý I/2026 và quý II/2026./.

Theo MBS, nền kinh tế trong hai tháng đầu năm đã ghi nhận những tín hiệu tích cực, với hoạt động sản xuất với chỉ số IIP (chỉ số sản xuất công nghiệp) tăng 10% so với cùng kỳ, dòng vốn FDI giải ngân ổn định (tăng 8,8% so với cùng kỳ), cùng nỗ lực đẩy mạnh giải ngân đầu tư công ngay từ đầu năm (tăng 24,4%) và lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát khi tăng 2,9% trong hai tháng đầu năm.

"Dựa trên nền tảng này, chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP quý I/2026 ở mức 8 - 8,3%. Tuy nhiên, mức dự báo này có phần cẩn trọng hơn so với mức 9,1% của kịch bản tăng trưởng kinh tế 10% theo Nghị quyết số 01/NQ-CP, trong bối cảnh cán cân thương mại nhập siêu ba tháng liên tiếp và tiêu dùng nội địa chưa hồi phục như kỳ vọng" - nhóm phân tích MBS dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

(TBTCO) - Sáng 13/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.220 đồng, tăng 6 đồng so với cuối tuần trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,22% lên 101,17 điểm. Đồng USD được hỗ trợ khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran làm gia tăng lo ngại lạm phát, còn thị trường đang chờ đợi báo cáo CPI của Mỹ công bố vào thứ ba để đánh giá triển vọng chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▼8K 1,472 ▲1324K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▼8K 1,473 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 ▲1270K 1,452 ▲1306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▼792K 143,762 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼600K 109,061 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 ▲80132K 98,896 ▲88952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 ▼488K 88,731 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 ▼67976K 8,481 ▼76796K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 ▼334K 60,704 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80