Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở

Ánh Tuyết
Loạt nội dung quan trọng được Sacombank trình Đại hội đồng cổ đông tới đây, gồm: kế hoạch dời trụ sở chính, gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030 nhằm xử lý dứt điểm tồn đọng và đề xuất đổi tên thành "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc". Trong khi đó, kế hoạch kinh doanh năm 2026 chưa được công bố chi tiết.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Cổ phiếu của Sacombank tăng trần sau thông tin sắp đổi tên thành Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc Thuế tỉnh Quảng Ngãi phối hợp cùng Sacombank hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số, triển khai hóa đơn điện tử

Lên kế hoạch dời trụ sở chính

Ngày 18/3, Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐQT về việc thông qua một số tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm tài chính 2025.

Một số nội dung dự kiến trình ĐHĐCĐ bao gồm: tờ trình thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank; tờ trình sửa đổi, bổ sung điều lệ và các văn bản quản trị; tờ trình xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập; cùng các tờ trình về những nội dung khác thuộc thẩm quyền của đại hội. Các tài liệu còn lại và các nội dung phát sinh (nếu có) sẽ tiếp tục được hoàn thiện và công bố. Thời gian tổ chức ĐHĐCĐ Sacombank dự kiến trong khoảng từ ngày 9 - 22/4.

Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở
Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở.

Trong tờ trình về thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, Chủ tịch Hội đồng quản trị nêu rõ, địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank hiện tại không nằm trong vùng lõi của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh.

"Do vậy, để phù hợp với định hướng phát triển của ngân hàng, tăng độ nhận diện thương hiệu của Sacombank trong giai đoạn phát triển mới, việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank là cần thiết" - lãnh đạo Sacombank nhấn mạnh.

Vì thế, Hội đồng quản trị đề xuất chuyển địa điểm trụ sở chính hiện tại của Sacombank ở số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh đến địa điểm khác trên lãnh thổ Việt Nam, phù hợp với định hướng phát triển Ngân hàng trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Xin gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030, khắc phục triệt để tồn tại

Bên cạnh đó, Hội đồng quản trị ngân hàng cũng trình ĐHĐCĐ xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.

Theo đánh giá của Sacombank, trong thời gian qua, ngân hàng đã nghiêm túc triển khai các nhiệm vụ và giải pháp theo Đề án đã được phê duyệt, tập trung vào các nội dung trọng tâm như: triển khai các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm; rà soát, khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; từng bước tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, kiểm soát rủi ro và lành mạnh hóa tình hình tài chính của ngân hàng.

Qua đó, ngân hàng đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát rủi ro và xử lý các tồn tại trong hoạt động.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Được biết, Sacombank triển khai tái cơ cấu từ năm 2015, sau khi sáp nhập SouthernBank, với lộ trình 10 năm và mục tiêu hoàn tất vào năm 2026. Ngân hàng đã hoàn tất 13/14 nội dung của đề án, phần còn lại chủ yếu liên quan đến khoản nợ của ông Trầm Bê và các bên liên quan.

"Mặc dù ngân hàng đã nỗ lực triển khai các giải pháp theo Đề án, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số nội dung chưa thể hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra. Chủ yếu do công tác xử lý và thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ tồn đọng còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào quá trình xử lý pháp lý. Một số tài sản bảo đảm có tính pháp lý phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục" - tờ trình Hội đồng quản trị Sacombank nêu rõ.

Cũng theo tờ trình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, việc khắc phục triệt để các tồn tại theo kết luận thanh tra cần gắn với quá trình củng cố lại hệ thống quản trị, quy trình nghiệp vụ và tổ chức bộ máy.

Sacombank hiện đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai tái cấu trúc toàn diện bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro.

"Hiện nay, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn ở mức cao và cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý theo lộ trình đã đề ra. Việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án là cần thiết để hoàn thành các mục tiêu của Đề án một cách thực chất và bền vững" - tờ trình nêu rõ.

Từ đó, việc gia hạn giúp tạo điều kiện để ngân hàng tiếp tục xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng; hoàn thành việc khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo quá trình cơ cấu lại được thực hiện một cách toàn diện, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng.

Trên cơ sở đó, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ thông qua việc xin gia hạn thời gian thực hiện Đề án đến hết năm 2030. ĐHĐCĐ giao và ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền quyết định các nội dung về thời điểm và nội dung để xin phê duyệt việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án.

Đổi tên thành “Sài Gòn Tài Lộc”, mở chương mới phát triển

Cũng trong tài liệu công bố, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ việc thay đổi tên của Sacombank.

Nêu rõ sự cần thiết của việc "thay tên, đổi nhà", Hội đồng quản trị Sacombank cho biết, “Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” là tên gọi từ khi thành lập đến nay. Trong xu thế chuyển đổi và cải tiến mạnh mẽ, việc thay đổi tên gọi sẽ xác lập bước ngoặt trọng đại, thể hiện chiến lược và định hướng phát triển mới, nâng tầm vị thế và hình ảnh của Sacombank.

Vì thế, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Theo tờ trình, ĐHĐCĐ giao/ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định thời điểm thực hiện đổi tên ngân hàng; tiến hành các thủ tục. "Trong quá trình thực hiện, Hội đồng quản trị được toàn quyền chủ động quyết định điều chỉnh/thay đổi tên gọi mới (ngoài tên gọi nêu trên) nếu thấy cần thiết và/hoặc theo ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" - tờ trình nêu rõ./.

Về kế hoạch kinh doanh năm 2026, tài liệu trình ĐHĐCĐ lần này của Sacombank chưa công bố chi tiết. Trước đó, ngân hàng đã bật mí thông tin về mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2025. nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch năm trước. Định hướng chung là tăng trưởng thận trọng, ưu tiên cân bằng giữa mở rộng hoạt động và đảm bảo an toàn hệ thống.

Dự kiến, tổng tài sản tăng 10,2%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng (tăng 11,7% hoặc theo hạn mức được cấp); huy động đạt 921.300 tỷ đồng (tăng 10,2%); tỷ lệ nợ xấu nội bảng kiểm soát dưới 5%. Đại hội cổ đông thường niên dự kiến diễn ra tại Phú Thọ, thay vì TP. Hồ Chí Minh như thường lệ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80