Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở

Loạt nội dung quan trọng được Sacombank trình Đại hội đồng cổ đông tới đây, gồm: kế hoạch dời trụ sở chính, gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030 nhằm xử lý dứt điểm tồn đọng và đề xuất đổi tên thành "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc". Trong khi đó, kế hoạch kinh doanh năm 2026 chưa được công bố chi tiết.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Cổ phiếu của Sacombank tăng trần sau thông tin sắp đổi tên thành Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc Thuế tỉnh Quảng Ngãi phối hợp cùng Sacombank hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số, triển khai hóa đơn điện tử

Lên kế hoạch dời trụ sở chính

Ngày 18/3, Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐQT về việc thông qua một số tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm tài chính 2025.

Một số nội dung dự kiến trình ĐHĐCĐ bao gồm: tờ trình thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank; tờ trình sửa đổi, bổ sung điều lệ và các văn bản quản trị; tờ trình xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập; cùng các tờ trình về những nội dung khác thuộc thẩm quyền của đại hội. Các tài liệu còn lại và các nội dung phát sinh (nếu có) sẽ tiếp tục được hoàn thiện và công bố. Thời gian tổ chức ĐHĐCĐ Sacombank dự kiến trong khoảng từ ngày 9 - 22/4.

Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở
Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở.

Trong tờ trình về thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, Chủ tịch Hội đồng quản trị nêu rõ, địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank hiện tại không nằm trong vùng lõi của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh.

"Do vậy, để phù hợp với định hướng phát triển của ngân hàng, tăng độ nhận diện thương hiệu của Sacombank trong giai đoạn phát triển mới, việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank là cần thiết" - lãnh đạo Sacombank nhấn mạnh.

Vì thế, Hội đồng quản trị đề xuất chuyển địa điểm trụ sở chính hiện tại của Sacombank ở số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh đến địa điểm khác trên lãnh thổ Việt Nam, phù hợp với định hướng phát triển Ngân hàng trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Xin gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030, khắc phục triệt để tồn tại

Bên cạnh đó, Hội đồng quản trị ngân hàng cũng trình ĐHĐCĐ xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.

Theo đánh giá của Sacombank, trong thời gian qua, ngân hàng đã nghiêm túc triển khai các nhiệm vụ và giải pháp theo Đề án đã được phê duyệt, tập trung vào các nội dung trọng tâm như: triển khai các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm; rà soát, khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; từng bước tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, kiểm soát rủi ro và lành mạnh hóa tình hình tài chính của ngân hàng.

Qua đó, ngân hàng đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát rủi ro và xử lý các tồn tại trong hoạt động.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Được biết, Sacombank triển khai tái cơ cấu từ năm 2015, sau khi sáp nhập SouthernBank, với lộ trình 10 năm và mục tiêu hoàn tất vào năm 2026. Ngân hàng đã hoàn tất 13/14 nội dung của đề án, phần còn lại chủ yếu liên quan đến khoản nợ của ông Trầm Bê và các bên liên quan.

"Mặc dù ngân hàng đã nỗ lực triển khai các giải pháp theo Đề án, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số nội dung chưa thể hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra. Chủ yếu do công tác xử lý và thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ tồn đọng còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào quá trình xử lý pháp lý. Một số tài sản bảo đảm có tính pháp lý phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục" - tờ trình Hội đồng quản trị Sacombank nêu rõ.

Cũng theo tờ trình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, việc khắc phục triệt để các tồn tại theo kết luận thanh tra cần gắn với quá trình củng cố lại hệ thống quản trị, quy trình nghiệp vụ và tổ chức bộ máy.

Sacombank hiện đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai tái cấu trúc toàn diện bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro.

"Hiện nay, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn ở mức cao và cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý theo lộ trình đã đề ra. Việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án là cần thiết để hoàn thành các mục tiêu của Đề án một cách thực chất và bền vững" - tờ trình nêu rõ.

Từ đó, việc gia hạn giúp tạo điều kiện để ngân hàng tiếp tục xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng; hoàn thành việc khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo quá trình cơ cấu lại được thực hiện một cách toàn diện, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng.

Trên cơ sở đó, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ thông qua việc xin gia hạn thời gian thực hiện Đề án đến hết năm 2030. ĐHĐCĐ giao và ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền quyết định các nội dung về thời điểm và nội dung để xin phê duyệt việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án.

Đổi tên thành “Sài Gòn Tài Lộc”, mở chương mới phát triển

Cũng trong tài liệu công bố, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ việc thay đổi tên của Sacombank.

Nêu rõ sự cần thiết của việc "thay tên, đổi nhà", Hội đồng quản trị Sacombank cho biết, “Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” là tên gọi từ khi thành lập đến nay. Trong xu thế chuyển đổi và cải tiến mạnh mẽ, việc thay đổi tên gọi sẽ xác lập bước ngoặt trọng đại, thể hiện chiến lược và định hướng phát triển mới, nâng tầm vị thế và hình ảnh của Sacombank.

Vì thế, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Theo tờ trình, ĐHĐCĐ giao/ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định thời điểm thực hiện đổi tên ngân hàng; tiến hành các thủ tục. "Trong quá trình thực hiện, Hội đồng quản trị được toàn quyền chủ động quyết định điều chỉnh/thay đổi tên gọi mới (ngoài tên gọi nêu trên) nếu thấy cần thiết và/hoặc theo ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" - tờ trình nêu rõ./.

Về kế hoạch kinh doanh năm 2026, tài liệu trình ĐHĐCĐ lần này của Sacombank chưa công bố chi tiết. Trước đó, ngân hàng đã bật mí thông tin về mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2025. nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch năm trước. Định hướng chung là tăng trưởng thận trọng, ưu tiên cân bằng giữa mở rộng hoạt động và đảm bảo an toàn hệ thống.

Dự kiến, tổng tài sản tăng 10,2%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng (tăng 11,7% hoặc theo hạn mức được cấp); huy động đạt 921.300 tỷ đồng (tăng 10,2%); tỷ lệ nợ xấu nội bảng kiểm soát dưới 5%. Đại hội cổ đông thường niên dự kiến diễn ra tại Phú Thọ, thay vì TP. Hồ Chí Minh như thường lệ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30