Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở

Ánh Tuyết
Loạt nội dung quan trọng được Sacombank trình Đại hội đồng cổ đông tới đây, gồm: kế hoạch dời trụ sở chính, gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030 nhằm xử lý dứt điểm tồn đọng và đề xuất đổi tên thành "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc". Trong khi đó, kế hoạch kinh doanh năm 2026 chưa được công bố chi tiết.
aa
Gia cố “lớp đệm” dự phòng, lợi nhuận Sacombank 2025 giảm còn hơn 7.600 tỷ đồng Cổ phiếu của Sacombank tăng trần sau thông tin sắp đổi tên thành Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc Thuế tỉnh Quảng Ngãi phối hợp cùng Sacombank hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số, triển khai hóa đơn điện tử

Lên kế hoạch dời trụ sở chính

Ngày 18/3, Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐQT về việc thông qua một số tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm tài chính 2025.

Một số nội dung dự kiến trình ĐHĐCĐ bao gồm: tờ trình thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank; tờ trình sửa đổi, bổ sung điều lệ và các văn bản quản trị; tờ trình xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập; cùng các tờ trình về những nội dung khác thuộc thẩm quyền của đại hội. Các tài liệu còn lại và các nội dung phát sinh (nếu có) sẽ tiếp tục được hoàn thiện và công bố. Thời gian tổ chức ĐHĐCĐ Sacombank dự kiến trong khoảng từ ngày 9 - 22/4.

Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở
Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở.

Trong tờ trình về thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, Chủ tịch Hội đồng quản trị nêu rõ, địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank hiện tại không nằm trong vùng lõi của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh.

"Do vậy, để phù hợp với định hướng phát triển của ngân hàng, tăng độ nhận diện thương hiệu của Sacombank trong giai đoạn phát triển mới, việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở chính của Sacombank là cần thiết" - lãnh đạo Sacombank nhấn mạnh.

Vì thế, Hội đồng quản trị đề xuất chuyển địa điểm trụ sở chính hiện tại của Sacombank ở số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh đến địa điểm khác trên lãnh thổ Việt Nam, phù hợp với định hướng phát triển Ngân hàng trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Xin gia hạn Đề án tái cơ cấu đến năm 2030, khắc phục triệt để tồn tại

Bên cạnh đó, Hội đồng quản trị ngân hàng cũng trình ĐHĐCĐ xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.

Theo đánh giá của Sacombank, trong thời gian qua, ngân hàng đã nghiêm túc triển khai các nhiệm vụ và giải pháp theo Đề án đã được phê duyệt, tập trung vào các nội dung trọng tâm như: triển khai các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm; rà soát, khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; từng bước tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, kiểm soát rủi ro và lành mạnh hóa tình hình tài chính của ngân hàng.

Qua đó, ngân hàng đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát rủi ro và xử lý các tồn tại trong hoạt động.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Được biết, Sacombank triển khai tái cơ cấu từ năm 2015, sau khi sáp nhập SouthernBank, với lộ trình 10 năm và mục tiêu hoàn tất vào năm 2026. Ngân hàng đã hoàn tất 13/14 nội dung của đề án, phần còn lại chủ yếu liên quan đến khoản nợ của ông Trầm Bê và các bên liên quan.

"Mặc dù ngân hàng đã nỗ lực triển khai các giải pháp theo Đề án, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số nội dung chưa thể hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra. Chủ yếu do công tác xử lý và thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ tồn đọng còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào quá trình xử lý pháp lý. Một số tài sản bảo đảm có tính pháp lý phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục" - tờ trình Hội đồng quản trị Sacombank nêu rõ.

Cũng theo tờ trình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, việc khắc phục triệt để các tồn tại theo kết luận thanh tra cần gắn với quá trình củng cố lại hệ thống quản trị, quy trình nghiệp vụ và tổ chức bộ máy.

Sacombank hiện đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai tái cấu trúc toàn diện bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro.

"Hiện nay, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn ở mức cao và cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý theo lộ trình đã đề ra. Việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án là cần thiết để hoàn thành các mục tiêu của Đề án một cách thực chất và bền vững" - tờ trình nêu rõ.

Từ đó, việc gia hạn giúp tạo điều kiện để ngân hàng tiếp tục xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng; hoàn thành việc khắc phục các tồn tại, sai sót theo kết luận thanh tra của cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo quá trình cơ cấu lại được thực hiện một cách toàn diện, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng.

Trên cơ sở đó, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ thông qua việc xin gia hạn thời gian thực hiện Đề án đến hết năm 2030. ĐHĐCĐ giao và ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền quyết định các nội dung về thời điểm và nội dung để xin phê duyệt việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án.

Đổi tên thành “Sài Gòn Tài Lộc”, mở chương mới phát triển

Cũng trong tài liệu công bố, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ việc thay đổi tên của Sacombank.

Nêu rõ sự cần thiết của việc "thay tên, đổi nhà", Hội đồng quản trị Sacombank cho biết, “Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” là tên gọi từ khi thành lập đến nay. Trong xu thế chuyển đổi và cải tiến mạnh mẽ, việc thay đổi tên gọi sẽ xác lập bước ngoặt trọng đại, thể hiện chiến lược và định hướng phát triển mới, nâng tầm vị thế và hình ảnh của Sacombank.

Vì thế, Hội đồng quản trị trình ĐHĐCĐ về việc thay đổi tên ngân hàng từ “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” thành “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc". Tên đầy đủ bằng tiếng Anh đổi từ “Sai Gon Thuong Tin Joint Stock Commercial Bank" thành “Saigon Treasure Commercial Joint Stock Bank". Tên giao dịch/tên viết tắt bằng tiếng Anh đổi từ "Sacombank" thành "SACOMBANK".

Theo tờ trình, ĐHĐCĐ giao/ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định thời điểm thực hiện đổi tên ngân hàng; tiến hành các thủ tục. "Trong quá trình thực hiện, Hội đồng quản trị được toàn quyền chủ động quyết định điều chỉnh/thay đổi tên gọi mới (ngoài tên gọi nêu trên) nếu thấy cần thiết và/hoặc theo ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" - tờ trình nêu rõ./.

Về kế hoạch kinh doanh năm 2026, tài liệu trình ĐHĐCĐ lần này của Sacombank chưa công bố chi tiết. Trước đó, ngân hàng đã bật mí thông tin về mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2025. nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch năm trước. Định hướng chung là tăng trưởng thận trọng, ưu tiên cân bằng giữa mở rộng hoạt động và đảm bảo an toàn hệ thống.

Dự kiến, tổng tài sản tăng 10,2%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng (tăng 11,7% hoặc theo hạn mức được cấp); huy động đạt 921.300 tỷ đồng (tăng 10,2%); tỷ lệ nợ xấu nội bảng kiểm soát dưới 5%. Đại hội cổ đông thường niên dự kiến diễn ra tại Phú Thọ, thay vì TP. Hồ Chí Minh như thường lệ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

(TBTCO) - Hơn cả một giải pháp tài chính, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang cùng đối tác chiến lược Sun Group tái định nghĩa trải nghiệm ngân hàng với tư duy đổi mới và sản phẩm tiên phong. Mỗi giải pháp ngân hàng không chỉ mang lại hiệu quả tài chính mà còn mở ra cánh cửa bước vào hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam, cùng khách hàng tận hưởng một phong cách sống tinh hoa và trọn vẹn thấu cảm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 ▼14550K 0 ▼14850K
Kim TT/AVPL 0 ▼14350K 0 ▼14750K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - ▼14350K - ▼14750K
Nguyên Liệu 99.99 0 ▼13200K 0 ▼13400K
Nguyên Liệu 99.9 0 ▼13150K 0 ▼13350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼150700K -142,000 ▼156200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17809 18082 18655
CAD 18176 18452 19064
CHF 31819 32200 32833
CNY 0 3836 3928
EUR 29408 29628 30705
GBP 34555 34947 35887
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15028 15612
SGD 19806 20088 20664
THB 697 760 813
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,060 26,060 26,440
USD(1-2-5) 25,018 - -
USD(10-20) 25,018 - -
EUR 29,530 29,554 30,965
JPY 157.17 157.45 166.95
GBP 34,735 34,829 36,039
AUD 18,031 18,096 18,777
CAD 18,356 18,415 19,094
CHF 32,068 32,168 33,115
SGD 19,918 19,980 20,765
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,280 3,290 3,428
KRW 16.38 17.08 18.58
THB 745.12 754.32 807.55
NZD 15,014 15,153 15,601
SEK - 2,674 2,769
DKK - 3,950 4,089
NOK - 2,666 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,008.13 - 6,782.2
TWD 734.41 - 889.63
SAR - 6,868.07 7,238.02
KWD - 83,059 88,370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 17986 18086 19011
CAD 18356 18456 19470
CHF 32054 32084 33666
CNY 3815.3 3840.3 3975.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34861 34911 36668
HKD 0 3355 0
JPY 158.18 158.68 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15123 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19965 20095 20816
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,087 26,137 26,450
USD20 26,087 26,137 26,450
USD1 26,087 26,137 26,450
AUD 18,025 18,125 19,232
EUR 29,378 29,478 31,134
CAD 18,298 18,398 19,705
SGD 20,035 20,185 20,800
JPY 158.68 160.18 165.75
GBP 34,747 34,897 35,959
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80