Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026 Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%

Cuộc đua lãi suất sôi động, nhiều nhà băng ngoại trả lãi cao

Khảo sát lãi suất niêm yết ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cho thấy, mặt bằng lãi suất các kỳ hạn đang phân hóa rõ rệt và phản ánh xu hướng tăng so với cuối năm 2025, trong đó, khối ngân hàng ngoại cũng tham gia tích cực vào cuộc đua lãi suất.

Trong bối cảnh các ngân hàng đua tranh hút vốn, ở nhóm ngân hàng "big 4", Agribank duy trì mức lãi suất cao nhất trong nhóm, với 2,6%/năm (kỳ hạn 1 tháng), 2,9%/năm (3 tháng), 4%/năm (6 tháng). Riêng các kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, nhóm "big 4" không ghi nhận sự chênh lệch về lãi suất huy động.

VPBank “chiếm sóng” kỳ hạn ngắn, MB bứt tốc kỳ hạn dài

Nhóm ngân hàng thương mại lớn ghi nhận mức tăng rõ rệt. VPBank trả lãi cao nhất thị trường ở kỳ hạn 1 - 6 tháng. MB cũng điều chỉnh lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn từ 1 - 6 tháng tăng 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm; còn lãi suất 12 tháng tăng mạnh lên 6,5%/năm, tương ứng tăng 1,1 điểm phần trăm; kỳ hạn 24 tháng tăng vọt lên 7,5%/năm.

Với các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn, ở kỳ hạn 1 tháng, mức cao nhất là 4,75%/năm, được khá nhiều ngân hàng cùng niêm yết như: HongLeong, PGBank, CIMB, UOB, OCB, VCBNeo, BVBank, Saigonbank, PVcomBank, VIB...

Ở kỳ hạn 3 tháng, mức trần trong bảng cũng là 4,75%/năm, xuất hiện tại nhiều ngân hàng như: HongLeong, PGBank, MBV, NCB, CIMB, UOB, OCB, VCBNeo, BVBank, PublicBank, Indovinabank, PVcomBank, VIB.

Điểm đáng chú ý nhất nằm ở kỳ hạn 6 tháng, cũng là kỳ hạn cần theo dõi kỹ nhất, vì đây thường là kỳ hạn huy động phổ biến và có thể coi đây là “chiến trường” cạnh tranh gay gắt nhất.

Theo đó, HongLeong đang trả lãi cao nhất với 7,2%/năm, đứng đầu toàn bộ hệ thống khảo sát. Xếp thứ hai là PGBank với 7,1%/năm. Nhóm kế tiếp gồm BacABank 6,8%/năm, MBV 6,5%/năm, Vikki Bank 6,4%/năm, NCB 6,3%/năm.

Gần 20 nhà băng tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn dài “hụt nhịp”

Ở kỳ hạn 1 tháng, có tới 11 ngân hàng niêm yết mức lãi suất kịch trần 4,75%/năm, với biên độ tăng đáng kể, cho thấy áp lực huy động vốn gia tăng. Trong nhóm tăng mạnh, UOB nâng lãi suất thêm 1,5 điểm phần trăm, lên 4,75%/năm; VietNgaBank tăng 1 điểm phần trăm, lên 4,3%/năm.

Ở khối ngân hàng trong nước, VietABank tăng 0,8 điểm phần trăm với kỳ hạn 1 tháng, lên 4,5%/năm; SaigonBank cũng tăng 0,65 điểm phần trăm để chạm mức trần 4,75%/năm.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Lãi suất 24 tháng “thua xa” kỳ hạn 6 tháng

Một điểm đáng chú ý là lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng lại thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, thể hiện các ngân hàng ưu tiên hút vốn ngắn hạn, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trước mắt, thay vì đẩy mạnh huy động dài hạn với chi phí cao.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 24 tháng tại Hong Leong là 6%/năm, thấp hơn tới 1,2 điểm phần trăm so với kỳ hạn 6 tháng; tại PGBank là 6,8%/năm, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm; tại VPBank là 6,2%/năm, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm...

Lãi suất kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn được ưa thích nhất trên thị trường - đang ghi nhận xu hướng tăng tương đối rõ, với 19 nhà băng tăng lãi suất so với đầu năm, mức tăng từ 0,2 - 2,1 điểm phần trăm.

Nhóm tăng mạnh nhất gồm: UOB tăng 2,1 điểm phần trăm, tương đương khoảng 51% nếu quy đổi tỷ lệ tăng tương đối; Hong Leong tăng 1,8 điểm phần trăm, tương ứng tăng 33%.

Các ngân hàng trong nước cũng tham gia tích cực vào "cuộc đua" tăng lãi suất như: MBV tăng 1 điểm phần trăm, lên 6,5%/năm; ABBank, VietABank, VietBank, Saigonbank ghi nhận mức tăng 0,8 - 0,9 điểm phần trăm, lên quanh 6%/năm.

Từ đầu tháng 3 tới nay, một số ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng kỳ hạn 6 tháng như: VietBank (tăng 0,8 điểm phần trăm, mức tăng rất mạnh trong tháng), VPBank (tăng 0,4 điểm phần trăm, lên 6,4%/năm), NCB (nhích 0,2 điểm phần trăm), Indovina Bank (tăng 0,15 điểm phần trăm). Ngược lại, số ít ngân hàng điều chỉnh giảm nhẹ như: CIMB, Standard Chartered.

Tại buổi đối thoại về triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2026 trong bối cảnh tình hình địa chính trị tại Trung Đông có nhiều diễn biến phức tạp, ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam chia sẻ, lãi suất VND đã tăng từ quý III/2025 trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường huy động vốn tại các ngân hàng thương mại, với mức tăng 1 - 2% tùy các kỳ hạn khác nhau.

Diễn biến này đến từ nhu cầu tín dụng ở mức cao trên thị trường đóng góp vào tăng trưởng GDP. Ngoài ra, theo chuyên gia từ Ngân hàng UOB, các yếu tố khác cũng tác động vào thanh khoản VND.

Ông Đinh Đức Quang chỉ rõ, các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh trên thị trường chứng khoán khiến dòng vốn thực ra khỏi thị trường. Cùng với đó, các chính sách siết chặt quản lý doanh thu hộ gia đình và cá nhân bước đầu cũng tác động đến lượng tiền duy trì tại hệ thống ngân hàng và sẽ cần thêm thời gian để bước chuyển tiếp này hài hòa hơn. Kỳ vọng giải ngân đầu tư công để lượng tiền thật quay lại nền kinh tế cũng còn gặp khó khăn.

"Tất cả các yếu tố trên đều đang tác động đến thanh khoản VND trên thị trường" - chuyên gia UOB đánh giá.

Còn trong báo cáo mới phát hành, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính thuộc nhóm ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính của Techcombank nhận định, mặt bằng lãi suất cao hơn do áp lực từ tỷ giá USD/VND và lạm phát.

Bên cạnh các yếu tố trên, theo nhóm phân tích của Techcombank, triển vọng lãi suất VND năm 2026 đang đối mặt với áp lực gia tăng rõ rệt so với dự báo trước.

Theo đó, thứ nhất, áp lực lên tỷ giá USD/VND có xu hướng mạnh hơn, khi USD duy trì sức mạnh trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng, buộc Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp để ổn định tỷ giá, qua đó, tạo áp lực khiến mặt bằng lãi suất VND nhích lên.

Thứ hai, rủi ro lạm phát cao hơn, đặc biệt khi giá năng lượng và hàng hóa biển động khó lường, sẽ thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ.

Thứ ba, tăng trưởng huy động có xu hướng chậm lại, trong khi nhu cầu tín dụng và vốn cho nền kinh tế vẫn ở mức cao, làm gia tăng áp lực lên chi phí vốn của hệ thống ngân hàng./.

Phác họa “đường đi” lãi suất 2026

Nhóm phân tích của Techcombank điều chỉnh triển vọng lãi suất VND năm 2026 theo hai kịch bản.

Trong kịch bản A (cơ sở), lãi suất VND kỳ hạn 6 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần được dự báo tăng lên khoảng 6,5%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cuối năm trước.

Trong kịch bản B (căng thẳng hơn), khi áp lực tỷ giá kéo dài hơn và lạm phát gia tăng mạnh hơn, lãi suất VND có thể tăng lên khoảng 7,1%, tương ứng mức điều chỉnh tăng khoảng 1,4 điểm phần trăm so với cuối năm trước, phản ánh điều kiện tiền tệ thắt chặt hơn trong bối cảnh huy động vốn tăng chậm, trong khi nhu cầu vốn vẫn duy trì ở mức cao./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,410 ▲290K 15,010 ▲290K
Trang sức 99.99 14,420 ▲290K 15,020 ▲290K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18202 18477 19052
CAD 18416 18693 19312
CHF 32021 32403 33049
CNY 0 3840 3950
EUR 29909 30132 31213
GBP 34871 35264 36199
HKD 0 3205 3407
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15895
SGD 20057 20339 20910
THB 716 779 833
USD (1,2) 25883 0 0
USD (5,10,20) 25922 0 0
USD (50,100) 25951 25965 26333
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25930 25930 26330
AUD 18388 18488 19411
CAD 18582 18682 19697
CHF 32257 32287 33869
CNY 3828.5 3853.5 3988.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30082 30112 31837
GBP 35164 35214 36975
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15419 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20215 20345 21066
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 14:00
Ngân hàng