Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuộc đua thị phần bảo hiểm phi nhân thọ năm 2025 tiếp tục "nóng" khi MIC đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh sau trong khi BIC, ABIC và PJICO tiếp cận một cách thận trọng trước bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt và chịu sức ép từ nhiều yếu tố khác.
aa
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần
Bảo hiểm Quân đội đặt mục tiêu giữ vững vị thế top 4 về thị phần trong ngành bảo hiểm phi nhân thọ. Ảnh minh họa

Tính đến đầu tháng 4/2025, có 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ mở màn công bố định hướng kế hoạch, chiến lược kinh doanh trong năm 2025. Đó là: Bảo hiểm Quân đội (MIC), Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC), Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) và Bảo hiểm Petrolimex (PJICO). Trong số đó, MIC đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 và thông qua kế hoạch kinh doanh, đặt mục tiêu bứt phá ngay từ đầu năm để giành thế trong cuộc đua thị phần, trong khi các doanh nghiệp còn lại vẫn đang giữ trong tay những chiến lược chưa hé lộ hoàn toàn.

Cuộc đua tăng trưởng

Theo kế hoạch kinh doanh năm 2025 đã được đại hội thông qua, MIC đặt mục tiêu giữ vững vị thế top 4 về thị phần trong ngành bảo hiểm phi nhân thọ, với doanh thu bảo hiểm tăng trưởng tối thiểu 25%. Con số này cao hơn cùng kỳ (7,2%), đưa doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2025 của MIC có thể đạt trên 6.000 tỷ đồng.

Trong khi đó, một số công ty khác đặt mục tiêu tăng trưởng thận trọng hơn. Đơn cử, BIC trong top 5 thị phần đặt mục tiêu tăng trưởng tổng doanh thu phí bảo hiểm (theo báo cáo riêng lẻ công ty mẹ, bao gồm doanh thu khác từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm) tăng 10,54%, kỳ vọng đạt 5.600 tỷ đồng.

ABIC đặt mục tiêu tăng trưởng thấp hơn ở mức 9%, đưa doanh thu kinh doanh bảo hiểm của công ty lên tối thiểu 2.650 tỷ đồng. Còn PJICO đặt mục tiêu đạt doanh thu bảo hiểm gốc 4.400 tỷ đồng, chỉ tương đương năm trước đó.

Cơ hội cho doanh nghiệp có thể gia tăng thị phần

"Những doanh nghiệp có khả năng gia tăng thị phần đó là các doanh nghiệp có khả năng tích hợp vào hệ sinh thái lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp có hậu phương lớn từ hệ sinh thái của tập đoàn hoặc có tổ chức tín dụng là cổ đông lớn đứng sau. Các doanh nghiệp có nền tảng công nghệ tốt, giúp kết nối và phát triển hệ thống phân phối sản phẩm hiệu quả hơn. Những doanh nghiệp sức khỏe tài chính tốt, năng lực quản lý tốt sẽ có cơ hội trong việc gia tăng thị phần". Ông Đinh Như Tuynh - Tổng Giám đốc MIC.

Về mục tiêu lợi nhuận trước thuế, MIC đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 75% sau một năm giảm sút 12,5%, tương đương gần 540 tỷ đồng. ABIC cũng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế bật tăng 23% đạt 315 tỷ đồng, sau khi tụt dốc 17% lợi nhuận và phải điều chỉnh kế hoạch năm trước đó. PJICO đặt kế hoạch thận trọng hơn, dự tính lãi trước thuế 306 tỷ đồng, tăng chỉ 5%. Ngược lại, có công ty dự tính “đi lùi” như BIC giảm 14,6% cùng kỳ, chỉ đạt 555 tỷ đồng.

Mặc dù đề ra các mức tăng trưởng khác biệt, song đều phản ánh nỗ lực duy trì và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp trong ngành bảo hiểm phi nhân thọ. Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục mở rộng kênh phân phối, đẩy mạnh bán hàng qua các kênh bancassurance, các tổ chức tín dụng. Các doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng cường chuyển đổi số, số hóa quy trình bồi thường; đồng thời, cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng để giảm thiểu chi phí phát sinh và nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

Cạnh tranh khốc liệt và các nhân tố quyết định thị phần

Hiện nhiều cặp doanh nghiệp phi nhân thọ đang bám đuổi sát nút trong cuộc đua về thị phần. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến thị phần doanh nghiệp phi nhân thọ năm 2025, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, theo ông Đinh Như Tuynh - Tổng Giám đốc MIC, những doanh nghiệp có nguy cơ mất thị phần khi có danh mục sản phẩm kém đa dạng hoặc quá tập trung vào những sản phẩm có tỷ lệ bồi thường cao, chi phí bán hàng lớn.

Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh suy giảm và nguy cơ thua lỗ nếu không kiểm soát tốt. Một năm thì có thể cầm cự, nhưng nếu kéo dài nhiều năm, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro mất thị phần. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp không đầu tư vào công nghệ mới sẽ bị tụt hậu so với thị trường.

Trao đổi với phóng viên, đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong top 10 toàn ngành chia sẻ, hiện sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng khốc liệt, khiến việc tăng trưởng doanh thu trở nên khó khăn. Chẳng hạn, nếu năm nay khách hàng mua bảo hiểm từ công ty, năm sau phí tái tục có thể cao hơn một chút. Tuy nhiên, do thị trường có rất nhiều công ty cạnh tranh, sẵn sàng chào mời khách hàng với mức phí tương đương hoặc thậm chí thấp hơn.

Đây cũng là bài toán đau đầu đối với ban lãnh đạo các công ty bảo hiểm, làm sao để vừa mang lại lợi ích cho khách hàng, vừa đảm bảo sự phát triển, tăng trưởng doanh thu cho doanh nghiệp. Bởi hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường được ký theo từng năm nên khách hàng hoàn toàn có thể chuyển sang một công ty khác, nếu họ chỉ quan tâm đến mức phí rẻ hơn.

Để giữ chân khách hàng, theo vị này, doanh nghiệp có thể phải giảm phí, hoặc có các chương trình ưu đãi, gia tăng giá trị để khách hàng tiếp tục gắn bó.

Cũng theo quan sát của Tổng Giám đốc MIC, thị trường hiện có 33 doanh nghiệp hoạt động và đang chuyển dịch từ cạnh tranh về phí sang nâng cao chất lượng dịch vụ. Từ đó, tạo sự thuận lợi cho khách hàng xuyên suốt trong chuỗi cung ứng bảo hiểm, từ giai đoạn khách hàng phát sinh nhu cầu cho đến khi giải quyết bồi thường và tái tục hợp đồng.

Cũng theo lãnh đạo MIC, trong năm 2024, doanh nghiệp có những thay đổi quan trọng về cơ cấu nghiệp vụ nhằm tối ưu hiệu quả lợi nhuận. Theo đó, sau nhiều năm hoạt động, bảo hiểm tài sản kỹ thuật của công ty đã vươn lên vị trí top 3 - 4 toàn thị trường, đặc biệt, tại các địa bàn tham gia đấu thầu, tỷ lệ trúng thầu của MIC tăng cao, phản ánh năng lực cạnh tranh mạnh mẽ.

"Chúng tôi thiết kế các sản phẩm bảo hiểm phù hợp, "may đo" theo nhu cầu khách hàng, đặc biệt trong lĩnh vực hàng hải. Công ty cũng tổ chức lại đội ngũ bán hàng theo hướng tinh gọn, nâng cao năng suất và thay đổi sản phẩm phù hợp để đáp ứng thị trường" - lãnh đạo MIC cho biết.

Dự báo doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm đều tăng trưởng khiêm tốn

Dự báo thị trường bảo hiểm phi nhân thọ năm 2025 cạnh tranh khốc liệt, PJICO đặt ra mục tiêu tăng trưởng thận trọng. Trong toàn ngành, bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng lớn 23,56% và ở mức cao trong tổng doanh thu của nhiều doanh nghiệp. Theo đại diện PJICO, bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng 37,3% doanh thu bảo hiểm gốc và là nghiệp vụ xương sống tại công ty. Năm 2025, dự báo sẽ tiếp tục gặp khó khăn do lực cầu thị trường yếu và cạnh tranh gay gắt về chi phí giữa các doanh nghiệp bảo hiểm. Với định hướng tiết giảm chi phí lên tới 5% doanh thu, tổng công ty dự kiến doanh thu từ nghiệp vụ này sẽ không tăng trưởng so với năm 2024.

Với bảo hiểm sức khỏe, do tỷ lệ tổn thất cao, tổng công ty sẽ duy trì tỷ trọng hợp lý để đảm bảo hiệu quả kinh doanh, với doanh thu dự kiến tương đương năm 2024.

Trong khi đó, bảo hiểm cháy nổ, tài sản và mọi rủi ro cũng tăng trưởng thận trọng. Quy định hiện hành cho phép doanh nghiệp bảo hiểm điều chỉnh mức phí trong biên độ 25%, tuy nhiên, với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ các công ty như BSH, VNI (có sự tham gia của DB Insurance Hàn Quốc), theo PJICO, việc giữ thị phần và tăng trưởng doanh thu là thách thức. Tổng công ty đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu nghiệp vụ này chỉ khoảng 2% trong năm 2025.

Ngoài ra, bảo hiểm kỹ thuật cũng tăng trưởng khiêm tốn. Do đặc thù không mang tính tái tục hàng năm, doanh thu từ bảo hiểm kỹ thuật dự kiến tăng 2% so với năm 2024.

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường vẫn đang chạy đua nhằm chiếm lĩnh và giữ vững vị thế trên thị trường, tạo nên môi trường cạnh tranh khốc liệt. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp trong việc cân đối giữa tăng trưởng doanh thu, tối ưu chi phí và duy trì hiệu quả kinh doanh trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 14,600
Kim TT/AVPL 14,300 14,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,600
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 14,620
Miếng SJC Nghệ An 14,250 14,620
Miếng SJC Thái Bình 14,250 14,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,550
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,740 14,440
Trang sức 99.99 13,750 14,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 14,622
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 14,623
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 143,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 98,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 88,365
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 8,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 60,454
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 1,462
Cập nhật: 26/06/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18473
CAD 18008 18283 18900
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3830 3923
EUR 29281 29501 30585
GBP 33922 34312 35252
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14539 15129
SGD 19751 20032 20613
THB 703 766 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,436 29,460 30,795
JPY 158.36 158.65 167.83
GBP 34,149 34,241 35,339
AUD 17,847 17,911 18,542
CAD 18,218 18,276 18,901
CHF 32,112 32,212 33,084
SGD 19,899 19,961 20,702
CNY - 3,801 3,938
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.68 16.35 17.75
THB 752.23 761.52 813.14
NZD 14,548 14,683 15,082
SEK - 2,659 2,747
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,623 2,710
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,004.73 - 6,764.28
TWD 746.19 - 901.83
SAR - 6,897.73 7,248
KWD - 83,270 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26454
AUD 17812 17912 18835
CAD 18189 18289 19304
CHF 32083 32113 33687
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29466 29496 31226
GBP 34232 34282 36034
HKD 0 3355 0
JPY 159.13 159.63 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14651 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19915 20045 20772
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80