DBV lập kỷ lục lợi nhuận gộp bảo hiểm bán niên, tăng tốc nửa cuối năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong 6 tháng đầu năm 2025, Bảo hiểm DBV ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng gần 17%, đạt 1.618 tỷ đồng, với điểm sáng là sản phẩm bảo hiểm sức khỏe tăng trưởng mạnh. Với mức tăng 61%, lợi nhuận gộp bảo hiểm lập kỷ lục bán niên. DBV hướng tới bứt phá mạnh nửa cuối năm.
aa
"Thay tên đổi vận”, Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu nhảy vọt 5 bậc trong bảng xếp hạng thị phần Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm VNI: Tái định vị thương hiệu thành DBV, hướng đến top 7 thị phần DBV ra mắt thương hiệu mới, đánh dấu giai đoạn phát triển chiến lược

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm DBV (DBV - mã Ck: AIC) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Theo báo cáo tài chính mới công bố, trong quý II/2025, Bảo hiểm DBV ghi nhận tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 771,6 tỷ đồng, tăng 15% cùng kỳ; trong đó, phí bảo hiểm gốc đạt gần 866,7 tỷ đồng, tăng 21% cùng kỳ và tiệm cận mức đỉnh từng đạt được trong quý IV/2023. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2025 đạt 1.489,5 tỷ đồng, tăng khoảng 16,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, phí bảo hiểm gốc đạt gần 1.618 tỷ đồng, tăng gần 17% cùng kỳ.

Đại diện DBV cho biết, mức tăng này chủ yếu đến từ sự tăng trưởng mạnh ở các dòng sản phẩm tài sản, kỹ thuật, xe cơ giới, sức khỏe. Đáng chú ý, sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe tăng 81%, hoàn thành 130% kế hoạch 6 tháng. Điều này cho thấy định hướng dịch chuyển sang phân khúc bán lẻ đang phát huy hiệu quả rõ rệt.

Trong quý II, phí nhượng tái bảo hiểm đạt 262,9 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đạt 502,8 tỷ đồng, tăng 8% cùng kỳ và thấp hơn tốc độ tăng phí bảo hiểm gốc.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, DBV ghi nhận chi bồi thường bảo hiểm lên tới 640,3 tỷ đồng, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, mức chi phí gia tăng này được bù đắp nhờ nhiều yếu tố, trong đó có thu bồi thường từ nhượng tái bảo hiểm đạt 291,3 tỷ đồng, tăng gần 50%. Nhờ đó, tổng chi bồi thường ròng (sau khi trừ thu từ nhượng tái và các khoản dự phòng) chỉ tăng nhẹ 6%, lên mức 326,7 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với chi bồi thường gốc ban đầu.

TẬP ĐOÀN BẢO HIỂM DBV TẲNG TRTẬP ĐOÀN BẢO HIỂM DBV TẲNG TRƯỞNG 17% TRONG 6 THÁNGƯỞNG 17% TRONG 6 THÁNG
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tính chung lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong quý II/2025 đạt 84,5 tỷ đồng, tăng mạnh 82% cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đạt 130,3 tỷ đồng, tăng 61% cùng kỳ và ghi nhận mức cao nhất trong các kỳ bán niên trong lịch sử hoạt động. Cùng với đó, lợi nhuận từ hoạt động tài chính đạt 66,4 tỷ đồng. Sau khi trừ đi các loại chi phí, tổng lợi nhuận trước thuế của Bảo hiểm DBV đạt 31,2 tỷ đồng, tăng gần 33% cùng kỳ.

Song song với tăng trưởng doanh thu, DBV cũng tập trung mở rộng mạng lưới phục vụ, gia tăng trải nghiệm khách hàng thông qua việc thành lập 48 đơn vị kinh doanh mới, nâng tổng số điểm phục vụ lên hơn 100 chi nhánh trên toàn quốc. Việc mở rộng mạng lưới nằm trong kế hoạch gia tăng thị phần tại các tỉnh thành trọng điểm, đồng thời củng cố năng lực phân phối đa kênh và hiện diện thương hiệu tại địa phương.

Nửa đầu năm 2025 cũng đánh dấu giai đoạn bản lề trong chiến lược chuyển đổi thương hiệu và quản trị. Sau khi chính thức đổi tên thành Tập đoàn bảo hiểm DBV, công ty triển khai hàng loạt thay đổi về nhận diện, cơ cấu tổ chức và định hướng kinh doanh. Với sự hỗ trợ từ cổ đông chiến lược DB Insurance (Hàn Quốc), DBV đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong vận hành như AI, Big Data và hệ thống đánh giá rủi ro tự động nhằm rút ngắn quy trình bồi thường và nâng cao trải nghiệm khách hàng./.

DBV đặt mục tiêu bứt tốc mạnh nửa cuối năm

Những kết quả kinh doanh khả quan trong 6 tháng đầu năm đang cho thấy một bước chuyển mình rõ nét, từ mô hình truyền thống sang hiện đại, công nghệ cao và lấy khách hàng làm trung tâm của DBV, kỳ vọng sẽ đưa DBV tiến gần hơn tới mục tiêu lọt nhóm 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dẫn đầu thị trường. Với kết quả này, nửa cuối năm, Bảo hiểm DBV phải bứt tốc để mục tiêu đã đề ra, với doanh thu phí bảo hiểm đạt 4.619 tỷ đồng, tương đương tăng gần 56% so với năm 2024; lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 179 tỷ đồng, tăng 22,5 cùng kỳ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 143,500
Hà Nội - PNJ 139,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 143,500
Miền Tây - PNJ 139,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 14,380
Miếng SJC Nghệ An 14,080 14,380
Miếng SJC Thái Bình 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 14,380
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,690 14,290
Trang sức 99.99 13,700 14,300
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 12/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 12/08/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80