"Thay tên đổi vận”, Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu nhảy vọt 5 bậc trong bảng xếp hạng thị phần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI) chính thức đổi tên thành Bảo hiểm DBV ngay sau khi “ông lớn” bảo hiểm ngoại trở thành cổ đông chiến lược. DBV cũng đặt mục tiêu lọt top 5 thị phần, nhảy vọt 5 bậc nhờ doanh thu bảo hiểm gốc tăng bứt phá gần 68% dự kiến đạt 4.860 tỷ đồng.
aa
VNI đặt mục tiêu lọt top 5 doanh nghiệp bảo hiểm lớn nhất Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao? Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI - Mã ck: AIC) dự kiến tổ chức họp Đại hội cổ đông thường niên năm 2025 ngày 28/4 tại Hà Nội.

Đổi tên thành DBV, khởi động hành trình chuyển mình

Tại đại hội, Hội đồng Quản trị trình kế hoạch kinh doanh năm 2025; phương án phân phối lợi nhuận sau thuế năm 2024; thông qua việc bổ sung/thay thế thành viên Hội đồng quản trị…

Theo báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ năm 2025, dự báo năm 2025, với tăng trưởng GDP nền kinh tế trên 8%, ngành bảo hiểm phi nhân thọ sẽ có nhiều cơ hội phát triển, với mức tăng trưởng doanh thu khoảng 10%. Tuy nhiên, thị trường vẫn tiếp tục cạnh tranh gay gắt về phí và chi phí, đặc biệt nhóm doanh nghiệp bảo hiểm mới gia nhập thị trường.

Năm 2025 cũng là năm VNI sẽ thay đổi nhận diện thương hiệu, hướng tới một diện mạo mới. Tại đại hội, VNI trình đại hội thay đổi tên tổng công ty và các đơn vị trực thuộc thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV. Đồng thời, đề nghị bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ 2023 - 2028.

Cùng với sự hỗ trợ của cổ đông chiến lược DB Insurance (DBI ) - Công ty bảo hiểm phi nhân thọ top 2 Hàn Quốc, DBV sẽ xây dựng chiến lược kinh doanh theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, tập trung vào việc tạo trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng thông qua ứng dụng công nghệ, phát triển đa dạng sản phẩm.

Phấn đấu doanh thu gần 5.000 tỷ đồng, lợi nhuận tăng mạnh

Năm 2025, DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu gốc và nhận tái bảo hiểm: 4.929 tỷ đồng, tăng 66,6%. Trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc 4.860 tỷ đồng, tăng gần 68%; doanh thu nhận tái 69 tỷ đồng. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 184 tỷ đồng, tăng 23%. Lợi nhuận sau thuế 32 tỷ đồng, gấp 2,77 lần.

Trước những cơ hội và thách thức đó, DBV quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả với mục tiêu lọt top 5 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu; mở rộng đa kênh phân phối, đa dạng hóa sản phẩm.

Tại đại hội, Hội đồng quản trị dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phân chia lợi nhuận, trích lập các quỹ năm tài chính 2024.

Cụ thể, lợi nhuận sau thuế VNI (hiện là DBV) năm 2024 là 11,5 tỷ đồng; sau khi trích các quỹ, lợi nhuận sau trích lập còn 10,95 tỷ đồng. Cộng thêm lợi nhuận các năm trước để lại, tổng lợi nhuận để lại của VNI là 92,1 tỷ đồng, không chia cổ tức nhằm giữ lại nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.

Bảo hiểm VNI “thay tên đổi vận”, tham vọng tiến sâu vào top 5 thị phần
Nguồn: DBV.

Việc DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu gốc và nhận tái bảo hiểm ở mức 4.929 tỷ đồng, tăng 66,6% so với năm trước và tương đương doanh thu của doanh nghiệp lọt top 5 thị trường năm 2024, là một con số gây chú ý trong bối cảnh thị trường bảo hiểm vẫn còn nhiều khó khăn, không ít doanh nghiệp top đầu lựa chọn kế hoạch tăng trưởng thận trọng, thậm chí điều chỉnh giảm. Những yếu tố đứng sau kỳ vọng tăng trưởng đột phá của DBV hiện vẫn là ẩn số, được kỳ vọng sẽ được làm rõ tại Đại hội đồng cổ đông sắp tới.

Theo nguồn tin của phóng viên, từng xuất hiện thông tin về việc hai trong ba doanh nghiệp nằm trong top 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ có thị phần doanh thu phí lớn nhất, hiện do một “ông lớn” bảo hiểm ngoại nắm quyền chi phối, sẽ sáp nhập để hợp nhất hoạt động, lấy tên thương hiệu mới nhằm cộng hưởng sức mạnh và tránh cạnh tranh chéo. Tuy nhiên, do còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, chiến lược sáp nhập này hiện chưa được triển khai. Thay vào đó, cổ đông ngoại đang theo đuổi những định hướng phát triển khác nhau cho từng công ty.

Doanh thu đạt gần 3.000 tỷ đồng, lợi nhuận chưa đạt kỳ vọng

Năm 2024 tiếp tục là một năm đầy thách thức đối với nền kinh tế nói chung và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, môi trường kinh doanh nhiều biến động và sức tàn phá của bão Yagi. Dù vậy, VNI cũng đạt được những kết quả đáng ghi nhận, với tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 2.958 tỷ đồng, hoàn thành 106,1% kế hoạch.

Giữ vững vị trí top 10 thị phần

Năm 2024, VNI duy trì vị trí 10/32 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với tổng doanh thu bảo hiểm gốc đạt 2.895 tỷ đồng, tăng 13,6% tương đương 347,6 tỷ đồng so với thực hiện năm 2023 và giữ vững vị thế top 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu, với thị phần 3,6% và tăng 0,06% so với năm 2023.

Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn là mảng nghiệp vụ chính đóng góp vào tổng doanh thu, chiếm tỷ trọng 62,4%. VNI hiện đứng số 1 thị trường về bảo hiểm xe cơ giới, tăng 4 bậc so với năm 2023.

Theo báo cáo tài chính do VNI công bố, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm tăng 40% cùng kỳ lên 793,9 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ gần 230 tỷ đồng, chủ yếu tăng mạnh trong nửa cuối năm 2024.

Sau khi trừ các chi phí, lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, tăng 35,7% và là mức cao kỷ lục trong suốt 16 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này. Đáng chú ý, đây là một trong những năm hiếm hoi mà lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm vượt lợi nhuận từ hoạt động tài chính, điều chưa từng xảy ra trong vòng 10 năm qua.

Bảo hiểm VNI “thay tên đổi vận”, tham vọng tiến sâu vào top 5 thị phần
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Ở chiều ngược lại, lợi nhuận từ hoạt động tài chính sụt giảm 21%, chỉ còn 146 tỷ đồng, mức thấp nhất trong 5 năm gần đây. Sau khi trừ các chi phí, VNI ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 11,533 tỷ đồng, giảm 53,6% so với cùng kỳ và mới hoàn thành 35,8% kế hoạch cả năm.

Bên cạnh những kết quả khả quan đạt được, Hội đồng quản trị VNI đánh giá vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Theo đó, cơ cấu doanh thu còn phụ thuộc khá nhiều vào bán lẻ với sản phẩm chủ đạo là xe cơ giới, chưa thực sự đa dạng kênh và sản phẩm.

Bảo hiểm xe cơ giới vẫn là mảng nghiệp vụ chính đóng góp vào tổng doanh thu, song tỷ lệ bồi thường vật chất xe ô tô năm 2024 vẫn đang ở mức cao, tỷ lệ bồi thường theo phí thực hưởng năm 2024 là 68,3% (loại trừ ảnh hưởng bởi bão Yagi là 67,2%).

“Trong năm 2025, VNI sẽ tập trung nguồn lực để phát triển thêm nhiều các kênh, đối tác, đa dạng hóa sản phẩm, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả” - lãnh đạo VNI cho biết./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80