"Thay tên đổi vận”, Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu nhảy vọt 5 bậc trong bảng xếp hạng thị phần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI) chính thức đổi tên thành Bảo hiểm DBV ngay sau khi “ông lớn” bảo hiểm ngoại trở thành cổ đông chiến lược. DBV cũng đặt mục tiêu lọt top 5 thị phần, nhảy vọt 5 bậc nhờ doanh thu bảo hiểm gốc tăng bứt phá gần 68% dự kiến đạt 4.860 tỷ đồng.
aa
VNI đặt mục tiêu lọt top 5 doanh nghiệp bảo hiểm lớn nhất Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao? Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính toán bước đi trong cuộc đua thị phần

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI - Mã ck: AIC) dự kiến tổ chức họp Đại hội cổ đông thường niên năm 2025 ngày 28/4 tại Hà Nội.

Đổi tên thành DBV, khởi động hành trình chuyển mình

Tại đại hội, Hội đồng Quản trị trình kế hoạch kinh doanh năm 2025; phương án phân phối lợi nhuận sau thuế năm 2024; thông qua việc bổ sung/thay thế thành viên Hội đồng quản trị…

Theo báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ năm 2025, dự báo năm 2025, với tăng trưởng GDP nền kinh tế trên 8%, ngành bảo hiểm phi nhân thọ sẽ có nhiều cơ hội phát triển, với mức tăng trưởng doanh thu khoảng 10%. Tuy nhiên, thị trường vẫn tiếp tục cạnh tranh gay gắt về phí và chi phí, đặc biệt nhóm doanh nghiệp bảo hiểm mới gia nhập thị trường.

Năm 2025 cũng là năm VNI sẽ thay đổi nhận diện thương hiệu, hướng tới một diện mạo mới. Tại đại hội, VNI trình đại hội thay đổi tên tổng công ty và các đơn vị trực thuộc thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV. Đồng thời, đề nghị bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ 2023 - 2028.

Cùng với sự hỗ trợ của cổ đông chiến lược DB Insurance (DBI ) - Công ty bảo hiểm phi nhân thọ top 2 Hàn Quốc, DBV sẽ xây dựng chiến lược kinh doanh theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, tập trung vào việc tạo trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng thông qua ứng dụng công nghệ, phát triển đa dạng sản phẩm.

Phấn đấu doanh thu gần 5.000 tỷ đồng, lợi nhuận tăng mạnh

Năm 2025, DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu gốc và nhận tái bảo hiểm: 4.929 tỷ đồng, tăng 66,6%. Trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc 4.860 tỷ đồng, tăng gần 68%; doanh thu nhận tái 69 tỷ đồng. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 184 tỷ đồng, tăng 23%. Lợi nhuận sau thuế 32 tỷ đồng, gấp 2,77 lần.

Trước những cơ hội và thách thức đó, DBV quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả với mục tiêu lọt top 5 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu; mở rộng đa kênh phân phối, đa dạng hóa sản phẩm.

Tại đại hội, Hội đồng quản trị dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phân chia lợi nhuận, trích lập các quỹ năm tài chính 2024.

Cụ thể, lợi nhuận sau thuế VNI (hiện là DBV) năm 2024 là 11,5 tỷ đồng; sau khi trích các quỹ, lợi nhuận sau trích lập còn 10,95 tỷ đồng. Cộng thêm lợi nhuận các năm trước để lại, tổng lợi nhuận để lại của VNI là 92,1 tỷ đồng, không chia cổ tức nhằm giữ lại nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.

Bảo hiểm VNI “thay tên đổi vận”, tham vọng tiến sâu vào top 5 thị phần
Nguồn: DBV.

Việc DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu gốc và nhận tái bảo hiểm ở mức 4.929 tỷ đồng, tăng 66,6% so với năm trước và tương đương doanh thu của doanh nghiệp lọt top 5 thị trường năm 2024, là một con số gây chú ý trong bối cảnh thị trường bảo hiểm vẫn còn nhiều khó khăn, không ít doanh nghiệp top đầu lựa chọn kế hoạch tăng trưởng thận trọng, thậm chí điều chỉnh giảm. Những yếu tố đứng sau kỳ vọng tăng trưởng đột phá của DBV hiện vẫn là ẩn số, được kỳ vọng sẽ được làm rõ tại Đại hội đồng cổ đông sắp tới.

Theo nguồn tin của phóng viên, từng xuất hiện thông tin về việc hai trong ba doanh nghiệp nằm trong top 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ có thị phần doanh thu phí lớn nhất, hiện do một “ông lớn” bảo hiểm ngoại nắm quyền chi phối, sẽ sáp nhập để hợp nhất hoạt động, lấy tên thương hiệu mới nhằm cộng hưởng sức mạnh và tránh cạnh tranh chéo. Tuy nhiên, do còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, chiến lược sáp nhập này hiện chưa được triển khai. Thay vào đó, cổ đông ngoại đang theo đuổi những định hướng phát triển khác nhau cho từng công ty.

Doanh thu đạt gần 3.000 tỷ đồng, lợi nhuận chưa đạt kỳ vọng

Năm 2024 tiếp tục là một năm đầy thách thức đối với nền kinh tế nói chung và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, môi trường kinh doanh nhiều biến động và sức tàn phá của bão Yagi. Dù vậy, VNI cũng đạt được những kết quả đáng ghi nhận, với tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 2.958 tỷ đồng, hoàn thành 106,1% kế hoạch.

Giữ vững vị trí top 10 thị phần

Năm 2024, VNI duy trì vị trí 10/32 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với tổng doanh thu bảo hiểm gốc đạt 2.895 tỷ đồng, tăng 13,6% tương đương 347,6 tỷ đồng so với thực hiện năm 2023 và giữ vững vị thế top 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu, với thị phần 3,6% và tăng 0,06% so với năm 2023.

Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn là mảng nghiệp vụ chính đóng góp vào tổng doanh thu, chiếm tỷ trọng 62,4%. VNI hiện đứng số 1 thị trường về bảo hiểm xe cơ giới, tăng 4 bậc so với năm 2023.

Theo báo cáo tài chính do VNI công bố, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm tăng 40% cùng kỳ lên 793,9 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ gần 230 tỷ đồng, chủ yếu tăng mạnh trong nửa cuối năm 2024.

Sau khi trừ các chi phí, lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, tăng 35,7% và là mức cao kỷ lục trong suốt 16 năm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này. Đáng chú ý, đây là một trong những năm hiếm hoi mà lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm vượt lợi nhuận từ hoạt động tài chính, điều chưa từng xảy ra trong vòng 10 năm qua.

Bảo hiểm VNI “thay tên đổi vận”, tham vọng tiến sâu vào top 5 thị phần
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Ở chiều ngược lại, lợi nhuận từ hoạt động tài chính sụt giảm 21%, chỉ còn 146 tỷ đồng, mức thấp nhất trong 5 năm gần đây. Sau khi trừ các chi phí, VNI ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 11,533 tỷ đồng, giảm 53,6% so với cùng kỳ và mới hoàn thành 35,8% kế hoạch cả năm.

Bên cạnh những kết quả khả quan đạt được, Hội đồng quản trị VNI đánh giá vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Theo đó, cơ cấu doanh thu còn phụ thuộc khá nhiều vào bán lẻ với sản phẩm chủ đạo là xe cơ giới, chưa thực sự đa dạng kênh và sản phẩm.

Bảo hiểm xe cơ giới vẫn là mảng nghiệp vụ chính đóng góp vào tổng doanh thu, song tỷ lệ bồi thường vật chất xe ô tô năm 2024 vẫn đang ở mức cao, tỷ lệ bồi thường theo phí thực hưởng năm 2024 là 68,3% (loại trừ ảnh hưởng bởi bão Yagi là 67,2%).

“Trong năm 2025, VNI sẽ tập trung nguồn lực để phát triển thêm nhiều các kênh, đối tác, đa dạng hóa sản phẩm, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả” - lãnh đạo VNI cho biết./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 143,500
Hà Nội - PNJ 139,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 143,500
Miền Tây - PNJ 139,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 14,380
Miếng SJC Nghệ An 14,080 14,380
Miếng SJC Thái Bình 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 14,380
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,690 14,290
Trang sức 99.99 13,700 14,300
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 12/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 12/08/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80