Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 28/2 tới đây, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không - VNI (mã chứng khoán: AIC) sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường nhằm thông qua việc thay đổi tên tổng công ty và thay đổi tên, địa chỉ các chi nhánh, công ty thành viên, đơn vị trực thuộc.
aa
Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét" Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? "Ông lớn" ngân hàng sắp thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn tối thiểu 1.300 tỷ đồng

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không được thành lập ngày 23/4/2008 theo Quyết định của Bộ Tài chính gồm 5 cổ đông sáng lập, trong đó có Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).

Thương hiệu cũ gây nhiều hạn chế

Lý giải việc "thay tên đổi họ" sắp tới, đại diện VNI cho rằng, việc sử dụng tên gọi “Bảo hiểm Hàng không" đang gây ra một số hạn chế, không còn phù hợp với hoạt động kinh doanh hiện nay, do thương hiệu "Bảo hiểm hàng không" - VNI có uy tín nhưng chưa thực sự nổi bật, chưa có điểm nhấn khác biệt trên thị trường.

Để đột phá, VNI cần một chiến lược tái định vị thương hiệu rõ ràng, đầu tư mạnh mẽ vào phát triển thương hiệu, sử dụng công nghệ số để xây dựng một hình ảnh thương hiệu hiện đại, gắn kết hơn với khách hàng.

Cùng với đó, logo VNI hiện nay đã được thiết kế từ năm 2008, font chữ đã cũ, nhiều chi tiết nhỏ gây khó khăn khi sử dụng trên các kênh truyền thông hiện tại như biển hiệu, ấn phẩm in ấn, kênh online... Điều này sẽ làm giảm hiệu quả các hoạt động truyền thông. quảng bá thương hiệu cho VNI.

Một công ty bảo hiểm phi nhân thọ kinh doanh ra sao trước khi thay tên đổi họ?
Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao? Ảnh minh hoạ.

Hơn nữa, tên gọi "Bảo hiểm Hàng không" khiến cho nhiều khách hàng hiểu nhầm về việc VNI đang là công ty thuộc sở hữu của Tổng công ty Hàng không Việt Nam, chỉ phục vụ cho các đơn vị thuộc lĩnh vực hàng không, điều này gây khó khăn cho cán bộ kinh doanh của VNI trong việc tiếp cận với khách hàng.

"Hiện nay, Tổng công ty Hàng không Việt Nam không còn là cổ đông của VNI nên việc sử dụng tên gọi của Tổng công ty gắn với cụm từ “hàng không" không còn phù hợp với cơ cấu cổ đông và chiến lược kinh doanh hiện tại" - đại diện VNI nhận định.

Thay đổi chiến lược sau khi cổ đông ngoại chi phối

"Vào tháng 4/2024, DB Insurance (Hàn Quốc) đã nắm giữ 75% cổ phần, xây dựng chiến lược kinh doanh của VNI theo tiêu chuẩn quốc tế; tập trung vào việc tạo trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng thông qua ứng dụng công nghệ, phát triển đa dạng sản phẩm.

Sự thay đổi chiến lược này đòi hỏi VNI phải có tên gọi mới, phù hợp với đối tượng khách hàng mục tiêu cũng như định hướng kinh doanh của Tổng công ty trong thời gian tới" - đại diện VNI nhấn mạnh.

Việc thay đổi tên tổng công ty và thay đổi tên, địa chỉ các chi nhánh, công ty thành viên, đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông thương hiệu, góp phần tích cực trợ cho hoạt động kinh doanh.

Theo đó, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không - VNI đổi tên thành "Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm DBV", tên giao dịch tiếng Anh "DBV Insurance Corporation"; tên viết tắt tiếng Việt: DBV.

Việc thay đổi tên, địa chỉ các đơn vị của tổng công ty cho phù hợp với tên mới của tổng công ty sau thay đổi, đồng thời phù hợp với quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành và nhu cầu hoạt động của đơn vị.

Trường hợp cần thiết, hội đồng quản trị có quyền điều chỉnh các thay đổi nêu tại phụ lục của tờ trình cho phù hợp với nhu cầu kinh doanh, kế hoạch hoạt động của tổng công ty và của các đơn vị theo quy định tại điều lệ tổng công ty. Tên của các đơn vị sau thay đổi có hiệu lực kể từ ngày tên mới của tổng công ty được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Lãi kinh doanh bảo hiểm vượt đầu tư tài chính

Năm 2024 là năm thứ 16 đánh dấu sự có mặt của VNI trên thị trường bảo hiểm. VNI có mạng lưới với 55 công ty thành viên trải dài trên toàn quốc; đồng thời, hợp tác và khai thác bảo hiểm tại các trung tâm đăng kiểm, showroom ô tô, các ngân hàng như: VIB, Seabank… để bán các loại dịch vụ bảo hiểm.

VNI cung cấp tất cả các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ hiện có trên thị trường gồm: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm tàu thuyền, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm trách nhiệm...

Tổng tài sản năm 2024 của VNI so với năm 2023 tăng 1.108 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ 27,6%, nguyên nhân do đầu tư tài chính ngắn hạn (chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi) tăng mạnh 95% cùng kỳ, lên 2.544,4 tỷ đồng; tài sản tái bảo hiểm tăng 54%, tương ứng mức tăng trên 450 tỷ đồng.

Một công ty bảo hiểm phi nhân thọ kinh doanh ra sao trước khi thay tên đổi họ?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Lãi gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cao kỷ lục

Về kết quả hoạt động kinh doanh, năm 2024, VNI ghi nhận tổng doanh thu bảo hiểm gốc đạt 2.895 tỷ đồng, hoàn thành 106,1% kế hoạch và tăng trưởng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ 35,7% và ở mức cao kỷ lục trong vòng 16 năm kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

Doanh thu phí bảo hiểm là 2.794,2 tỷ đồng, sau khi trừ đi phí nhượng tái bảo hiểm và các khoản giảm trừ, VNI đạt doanh thu phí bảo hiểm thuần 1.708,8 tỷ đồng, tăng 13% cùng kỳ.

Về cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm, đại diện VNI cho biết năm 2024, doanh thu bảo hiểm xe cơ giới đạt 1.806 tỷ đồng, chiếm 62,4% tổng doanh thu, tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thị phần trên thị trường.

Bảo hiểm con người đạt mức tăng trưởng 31,3%, chiếm 19% tổng doanh thu. Bảo hiểm tài sản kỹ thuật và hàng hải cũng ghi nhận bứt phá với mức tăng 28,4%.

Đáng chú ý, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm tăng 40% cùng kỳ lên 793,9 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ gần 230 tỷ đồng chủ yếu do tăng mạnh trong nửa cuối năm 2024. Tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 320 tỷ đồng, tương ứng tăng 17%.

Tính chung năm 2024, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ 35,7% và ở mức cao kỷ lục trong vòng 16 năm kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này. Đây cũng là năm duy nhất VNI ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm vượt lợi nhuận hoạt động tài chính.

Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động tài chính sụt giảm 21%, còn 146 tỷ đồng, thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây. Cùng với đó, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 10% lên 311 tỷ đồng. Sau khi trừ đi các chi phí, VNI lãi sau thuế 11,4 tỷ đồng, giảm 53,6% cùng kỳ.

Năm 2025, VNI đặt mục tiêu chuyển mình với chiến lược phát triển toàn diện, tập trung vào mở rộng mạng lưới hợp tác và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang đến trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng.

Công ty cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và dữ liệu lớn (Big Data) để tối ưu hóa quy trình vận hành và phát triển các sản phẩm bảo hiểm thông minh, đáp ứng nhu cầu thị trường; đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân sự tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu của VNI./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80