Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 28/2 tới đây, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không - VNI (mã chứng khoán: AIC) sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường nhằm thông qua việc thay đổi tên tổng công ty và thay đổi tên, địa chỉ các chi nhánh, công ty thành viên, đơn vị trực thuộc.
aa
Bức tranh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sau khi bão "càn quét" Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? "Ông lớn" ngân hàng sắp thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn tối thiểu 1.300 tỷ đồng

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không được thành lập ngày 23/4/2008 theo Quyết định của Bộ Tài chính gồm 5 cổ đông sáng lập, trong đó có Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).

Thương hiệu cũ gây nhiều hạn chế

Lý giải việc "thay tên đổi họ" sắp tới, đại diện VNI cho rằng, việc sử dụng tên gọi “Bảo hiểm Hàng không" đang gây ra một số hạn chế, không còn phù hợp với hoạt động kinh doanh hiện nay, do thương hiệu "Bảo hiểm hàng không" - VNI có uy tín nhưng chưa thực sự nổi bật, chưa có điểm nhấn khác biệt trên thị trường.

Để đột phá, VNI cần một chiến lược tái định vị thương hiệu rõ ràng, đầu tư mạnh mẽ vào phát triển thương hiệu, sử dụng công nghệ số để xây dựng một hình ảnh thương hiệu hiện đại, gắn kết hơn với khách hàng.

Cùng với đó, logo VNI hiện nay đã được thiết kế từ năm 2008, font chữ đã cũ, nhiều chi tiết nhỏ gây khó khăn khi sử dụng trên các kênh truyền thông hiện tại như biển hiệu, ấn phẩm in ấn, kênh online... Điều này sẽ làm giảm hiệu quả các hoạt động truyền thông. quảng bá thương hiệu cho VNI.

Một công ty bảo hiểm phi nhân thọ kinh doanh ra sao trước khi thay tên đổi họ?
Sắp "thay tên đổi họ" sau 16 năm hoạt động, Bảo hiểm VNI kinh doanh ra sao? Ảnh minh hoạ.

Hơn nữa, tên gọi "Bảo hiểm Hàng không" khiến cho nhiều khách hàng hiểu nhầm về việc VNI đang là công ty thuộc sở hữu của Tổng công ty Hàng không Việt Nam, chỉ phục vụ cho các đơn vị thuộc lĩnh vực hàng không, điều này gây khó khăn cho cán bộ kinh doanh của VNI trong việc tiếp cận với khách hàng.

"Hiện nay, Tổng công ty Hàng không Việt Nam không còn là cổ đông của VNI nên việc sử dụng tên gọi của Tổng công ty gắn với cụm từ “hàng không" không còn phù hợp với cơ cấu cổ đông và chiến lược kinh doanh hiện tại" - đại diện VNI nhận định.

Thay đổi chiến lược sau khi cổ đông ngoại chi phối

"Vào tháng 4/2024, DB Insurance (Hàn Quốc) đã nắm giữ 75% cổ phần, xây dựng chiến lược kinh doanh của VNI theo tiêu chuẩn quốc tế; tập trung vào việc tạo trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng thông qua ứng dụng công nghệ, phát triển đa dạng sản phẩm.

Sự thay đổi chiến lược này đòi hỏi VNI phải có tên gọi mới, phù hợp với đối tượng khách hàng mục tiêu cũng như định hướng kinh doanh của Tổng công ty trong thời gian tới" - đại diện VNI nhấn mạnh.

Việc thay đổi tên tổng công ty và thay đổi tên, địa chỉ các chi nhánh, công ty thành viên, đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông thương hiệu, góp phần tích cực trợ cho hoạt động kinh doanh.

Theo đó, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không - VNI đổi tên thành "Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm DBV", tên giao dịch tiếng Anh "DBV Insurance Corporation"; tên viết tắt tiếng Việt: DBV.

Việc thay đổi tên, địa chỉ các đơn vị của tổng công ty cho phù hợp với tên mới của tổng công ty sau thay đổi, đồng thời phù hợp với quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành và nhu cầu hoạt động của đơn vị.

Trường hợp cần thiết, hội đồng quản trị có quyền điều chỉnh các thay đổi nêu tại phụ lục của tờ trình cho phù hợp với nhu cầu kinh doanh, kế hoạch hoạt động của tổng công ty và của các đơn vị theo quy định tại điều lệ tổng công ty. Tên của các đơn vị sau thay đổi có hiệu lực kể từ ngày tên mới của tổng công ty được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Lãi kinh doanh bảo hiểm vượt đầu tư tài chính

Năm 2024 là năm thứ 16 đánh dấu sự có mặt của VNI trên thị trường bảo hiểm. VNI có mạng lưới với 55 công ty thành viên trải dài trên toàn quốc; đồng thời, hợp tác và khai thác bảo hiểm tại các trung tâm đăng kiểm, showroom ô tô, các ngân hàng như: VIB, Seabank… để bán các loại dịch vụ bảo hiểm.

VNI cung cấp tất cả các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ hiện có trên thị trường gồm: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm tàu thuyền, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm trách nhiệm...

Tổng tài sản năm 2024 của VNI so với năm 2023 tăng 1.108 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ 27,6%, nguyên nhân do đầu tư tài chính ngắn hạn (chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi) tăng mạnh 95% cùng kỳ, lên 2.544,4 tỷ đồng; tài sản tái bảo hiểm tăng 54%, tương ứng mức tăng trên 450 tỷ đồng.

Một công ty bảo hiểm phi nhân thọ kinh doanh ra sao trước khi thay tên đổi họ?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Lãi gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cao kỷ lục

Về kết quả hoạt động kinh doanh, năm 2024, VNI ghi nhận tổng doanh thu bảo hiểm gốc đạt 2.895 tỷ đồng, hoàn thành 106,1% kế hoạch và tăng trưởng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ 35,7% và ở mức cao kỷ lục trong vòng 16 năm kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này.

Doanh thu phí bảo hiểm là 2.794,2 tỷ đồng, sau khi trừ đi phí nhượng tái bảo hiểm và các khoản giảm trừ, VNI đạt doanh thu phí bảo hiểm thuần 1.708,8 tỷ đồng, tăng 13% cùng kỳ.

Về cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm, đại diện VNI cho biết năm 2024, doanh thu bảo hiểm xe cơ giới đạt 1.806 tỷ đồng, chiếm 62,4% tổng doanh thu, tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thị phần trên thị trường.

Bảo hiểm con người đạt mức tăng trưởng 31,3%, chiếm 19% tổng doanh thu. Bảo hiểm tài sản kỹ thuật và hàng hải cũng ghi nhận bứt phá với mức tăng 28,4%.

Đáng chú ý, tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm tăng 40% cùng kỳ lên 793,9 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ gần 230 tỷ đồng chủ yếu do tăng mạnh trong nửa cuối năm 2024. Tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 320 tỷ đồng, tương ứng tăng 17%.

Tính chung năm 2024, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của VNI đạt 180,7 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ 35,7% và ở mức cao kỷ lục trong vòng 16 năm kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ này. Đây cũng là năm duy nhất VNI ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm vượt lợi nhuận hoạt động tài chính.

Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động tài chính sụt giảm 21%, còn 146 tỷ đồng, thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây. Cùng với đó, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 10% lên 311 tỷ đồng. Sau khi trừ đi các chi phí, VNI lãi sau thuế 11,4 tỷ đồng, giảm 53,6% cùng kỳ.

Năm 2025, VNI đặt mục tiêu chuyển mình với chiến lược phát triển toàn diện, tập trung vào mở rộng mạng lưới hợp tác và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang đến trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng.

Công ty cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và dữ liệu lớn (Big Data) để tối ưu hóa quy trình vận hành và phát triển các sản phẩm bảo hiểm thông minh, đáp ứng nhu cầu thị trường; đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân sự tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu của VNI./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 143,500
Hà Nội - PNJ 139,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 143,500
Miền Tây - PNJ 139,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 14,380
Miếng SJC Nghệ An 14,080 14,380
Miếng SJC Thái Bình 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 14,380
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,690 14,290
Trang sức 99.99 13,700 14,300
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 12/08/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 12/08/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80