"Ông lớn" ngân hàng sắp thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn tối thiểu 1.300 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Techcombank đang lấy ý kiến cổ đông thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ, với vốn điều lệ tối thiểu 1.300 tỷ đồng. Đồng thời, "ông lớn" ngân hàng này cũng dự chi 285 tỷ đồng để tăng sở hữu lên 68% tại một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
aa
Techcombank dự kiến góp vốn thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng từ những chuyển động mới Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank - mã chứng khoán: TCB) vừa thông báo tài liệu lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản năm 2025 về việc phê duyệt góp vốn thành lập Công ty Bảo hiểm Nhân thọ là công ty con của Techcombank; phê duyệt mua lại cổ phần để Công ty Cổ phần Bảo hiểm phi nhân thọ Kỹ thương (TCGIns) trở thành công ty con của Techcombank. Thời hạn cổ đông gửi lại phiếu lấy ý kiến đã trả lời chậm nhất 16 giờ ngày 5/3/2025 tính theo dấu bưu điện hoặc thời gian nhận thư điện tử.

Nâng cao dịch vụ, hưởng lợi về mặt tài chính

Theo lãnh đạo ngân hàng Techcombank, việc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ nhằm nâng cao dịch vụ và sản phẩm, tăng lợi ích tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Dự kiến sở hữu trên 50% vốn điều lệ TCLife

Theo tờ trình xin ý kiến cổ đông, Techcombank dự kiến thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm nhân thọ Kỹ thương (TCLife), với vốn điều lệ tối thiểu 1.300 tỷ đồng và sẽ sở hữu ít nhất 50% vốn điều lệ công ty này. Techcombank sẽ nhận được những lợi ích về mặt tài chính như: nhận doanh thu phí với mức phí cạnh tranh, kèm theo việc gia tăng giá trị tổng tài sản từ phần vốn góp tại công ty bảo hiểm nhân thọ.

Lãnh đạo ngân hàng Techcombank cho rằng thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và cơ hội để phát triển.

Hiện cơ cấu dân số Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng với hơn 50% dân số thuộc độ tuổi lao động, là đối tượng trụ cột rất cần được bảo vệ. Trong khi đó, tỷ lệ dân số đang được bảo vệ bởi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chỉ tương đương 20% dân số trong độ tuổi lao động và 10% toàn dân số.

Cùng với đó, thu nhập hộ gia đình tăng trưởng tốt, nghiên cứu trong giai đoạn 5 năm 2017-2022 của Công ty nghiên cứu thị trường Cimigo cho thấy, tỷ lệ gia đình có thu nhập hàng tháng từ 500 - 999 USD tăng 67%, gia đình có thu nhập hàng tháng từ 1.000 USD tăng 378%. Với khả năng chi trả ngày càng tăng, kèm theo đó sự hiểu biết về các công cụ tài chính được nâng cao, bảo hiểm nhân thọ sẽ là sản phẩm tiếp tục được đón nhận trong tương lai.

Cùng với đó, việc thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ giúp ngân hàng chủ động cung cấp những sản phẩm đa dạng, ưu việt đến với khách hàng.

"Ông lớn" ngân hàng sắp thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn tối thiểu 1.300 tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Từ những phân tích trên, Techcombank dự kiến thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm nhân thọ Kỹ thương (TCLife), với vốn điều lệ tối thiểu 1.300 tỷ đồng. Techcombank dự kiến sở hữu trên 50% và tối đa 100% vốn điều lệ của TCLife. Với số vốn điều lệ này, TCLife đứng sau 14/19 công ty bảo hiểm nhân thọ trên thị trường và tương đương Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas (MB Ageas Life).

Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có 19 công ty bảo hiểm nhân thọ nhưng chỉ có duy nhất Bảo Việt là doanh nghiệp Việt, chiếm 21,7% thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm. Còn lại gần 80% thị phần vẫn nằm trong tay các doanh nghiệp nước ngoài chi phối, với những cái tên lớn như Prudential, Manulife, Dai-ichi, AIA...

Tăng tỷ lệ sở hữu tại TCGIns lên 68%

Tương tự, với bảo hiểm phi nhân thọ, đại diện ngân hàng cho rằng, việc tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần để TCGIns trở thành công ty con của Techcombank nhằm nâng cao dịch vụ và sản phẩm, gia tăng lợi ích tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Theo đánh giá, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam tăng trưởng đều đặn và bền vững qua các năm. Việc bán bảo hiểm phi nhân thọ qua hệ thống ngân hàng (bancassurance) tăng trưởng vượt trội với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm kép 11,3%.

"Tiềm năng tăng trưởng thị trường bảo hiểm vẫn còn lớn khi sự đóng góp của bảo hiểm phi nhân thọ vào GDP của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp, với 1,3% so với 3- 4% của các thị trường khác trong khu vực" - đại diện Techcombank đánh giá.

Do đó, cơ hội thị trường và khả năng khai thác sản phẩm trong hệ thống khách hàng khá lớn. Việc tăng cường vốn đầu tư của Techcombank tại TCGIns sẽ giúp tăng lợi nhuận trước thuế trên báo cáo tài chính hợp nhất của Techcombank hàng năm. Bên cạnh đó, TCGIns trở thành công ty con của Techcombank sẽ giúp ngân hàng chủ động cung cấp những sản phẩm đa dạng, ưu việt đến với khách hàng.

Nguồn: Techcombank.

TCGIns hiện có vốn điều lệ 500 tỷ đồng, mới thành lập tháng 10/2024. Doanh nghiệp này cung cấp các sản phẩm như bảo hiểm tài sản; bảo hiểm các lĩnh vực hàng hóa vận chuyển, hàng không, xe cơ giới và các loại nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe...

Mua lại 57% vốn từ Công ty Đầu tư và phát triển NewCo

Techcombank dự chi 285 tỷ đồng để mua lại 57% vốn của Công ty cổ phần Bảo hiểm phi nhân thọ Techcom (TCGIns) từ cổ đông lớn nhất là Công ty Đầu tư và phát triển NewCo. Nhờ đó, sở hữu của Techcombank tại TCGIns tăng từ 11% lên 68%.

Với số vốn điều lệ này, TCGIns đứng sau 21/32 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh công ty bảo hiểm trên thị trường và ngang bằng Công ty TNHH bảo hiểm Samsung Vina (Samsung Vina), Công ty TNHH bảo hiểm Fubon (Việt Nam) (Fubon).

Động thái này diễn ra 5 tháng sau khi Techcombank chấm dứt hợp đồng phân phối bảo hiểm nhân thọ độc quyền với Manulife (tháng 10/2024).

Trong hai năm 2021 và 2022, thu từ dịch vụ hợp tác bảo hiểm đem lại cho Techcombank lần lượt 1.558 tỷ và 1.750 tỷ đồng. Năm 2024, thu từ mảng này đem lại cho nhà băng 606 tỷ đồng, chiếm khoảng 5,5% thu nhập từ hoạt động dịch vụ.

Hiện nhiều ngân hàng như: BIDV và MB đều sở hữu công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, đó là Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) và Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC). Hai "ông lớn" ngân hàng này đều liên kết với các đối tác để xây dựng các công ty bảo hiểm nhân thọ, hoàn thiện hệ sinh thái./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80