Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng từ những chuyển động mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau hai năm thị trường bảo hiểm nhân thọ chững lại, để thoát tăng trưởng âm và tiến tới giai đoạn phát triển minh bạch, bền vững cả về quy mô lẫn chất lượng, những thành viên trên thị trường còn nhiều điều cần làm.
aa
Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng từ những chuyển động mới
Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Văn Chung

Năm 2025 được kỳ vọng sẽ là năm thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng đánh dấu giai đoạn phục hồi, tăng trưởng dương trở lại về doanh thu phí bảo hiểm và các chỉ tiêu khác tiếp đà tăng tốc. Theo đó, năm nay toàn ngành bảo hiểm phấn đấu doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 239.636 tỷ đồng, tăng 0,05% so với cùng kỳ. Với khối bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp phấn đấu tổng tài sản ước tăng 6,6%; số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước tăng 5,4%.

Điều gì giúp doanh thu bảo hiểm lấy lại đà tăng?

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về tiềm năng tăng trưởng của lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ năm nay, ông Trần Nguyên Đán - Chuyên gia kinh tế, thành viên Hội Luật gia Việt Nam cho rằng, việc doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng trở lại hay không rất khó tiên đoán bởi doanh thu thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng tư vấn, cảm xúc của khách hàng mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế.

Giá socola tăng kỷ lục trong dịp Valentine

Kỳ vọng chuyển biến nhờ nâng chất lượng đại lý

"Hiện nay các công ty bảo hiểm nhân thọ ra sức chấn chỉnh năng lực tư vấn của tư vấn viên. Suốt một thời gian dài, các công ty bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam chỉ tập trung vào tuyển dụng và đào tạo các kỹ năng bán hàng thay vì đào tạo chuyên sâu về kiến thức tài chính, bảo hiểm, đầu tư. Nếu công tác đào tạo và quản lý chất lượng đại lý được làm tốt thì đây sẽ là một điểm nhấn giúp thị trường phát triển".

Ông Trần Nguyên Đán - Hội Luật gia Việt Nam.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia này, 2025 sẽ là một năm phức tạp, khó đoán định bởi các biến động lớn về kinh tế - chính trị thế giới khiến nhiều ngành nghề kinh doanh tại Việt Nam bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, tình hình thị trường đầu tư sẽ có nhiều thuận lợi từ khu vực bất động sản và tài chính ngân hàng.

"Do đó, nếu lực lượng kinh doanh bảo hiểm có đủ kiến thức về tài chính, quản trị rủi ro và biết cách tư vấn tốt cho khách hàng, vẫn sẽ có được kết quả kinh doanh tốt" - ông Đán nhận định.

Cùng chung quan điểm về việc nâng cao chất lượng đại lý sẽ tạo sự chuyển biến tích cực cho thị trường, theo ông Trần Mạnh Hoàng Việt - Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, thị trường đã mất đến 2 năm cho giai đoạn chuyển giao và chuyển sang hướng phát triển theo chuẩn sâu, thích nghi với những quy định, chuẩn mực mới. Theo ông Việt, đợt khủng hoảng vừa qua kéo theo quá nhiều nhân sự bỏ nghề nên việc hồi phục nhân sự rất chậm, song việc đào tạo có nhiều chuyển biến so với trước đây.

Khác với trước đây, đào tạo một tư vấn viên kinh doanh bảo hiểm khá đơn giản, có thể sớm thực hành tư vấn hợp đồng bảo hiểm, nhưng bây giờ nhiều quy định khắt khe hơn, quy trình ghi âm trong quá trình tư vấn khiến tư vấn viên không thể bán vội vàng mà phải nâng cao trình độ và hiểu biết sản phẩm.

Bên cạnh đó, để khôi phục niềm tin thị trường, theo vị chuyên gia này, những người trẻ được học về tài chính cá nhân nhiều hơn, đội ngũ đại lý bảo hiểm được đào tạo chuẩn chỉnh, chuyên sâu hơn sẽ giúp khách hàng mở lòng nhiều hơn và đưa thị trường quay lại quỹ đạo phát triển.

Biến động thị phần sau hai năm

Nhìn lại bức tranh kinh doanh bảo hiểm nhân thọ năm 2024 phát đi nhiều tín hiệu tích cực, tạo đà cho một năm 2025 nhiều hứa hẹn. Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới năm 2024 đạt 24.512 tỷ đồng, tiếp tục giảm 12,2%, tuy nhiên, tốc độ giảm đã chậm hơn nhiều so với năm 2023 (giảm 44,7%).

Tính chung tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 148.050 tỷ đồng, giảm 5,5% so với năm 2023. Số liệu từ cơ quan quản lý cho thấy, theo từng nghiệp vụ, doanh thu phí từ nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất với 69,1%, tiếp theo là nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp 16,1%, các nghiệp vụ chính còn lại chiếm tỷ trọng 2,3%. Doanh thu phí sản phẩm bảo hiểm bán kèm đóng góp 12,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường. Số lượng hợp đồng có hiệu lực (không bao gồm hợp đồng sản phẩm bảo hiểm bán kèm) đạt 11.873.817 hợp đồng, giảm 9,3% so với năm 2023.

Về sự xáo trộn trong bức tranh thị phần, thống kê của TBTCVN cho thấy, các doanh nghiệp nằm trong top 5 giữ nguyên thứ hạng dù thị phần có nhiều thay đổi sau hai năm vừa qua. Cụ thể, Bảo Việt Nhân thọ chiếm tỷ trọng 21,7% tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường và nâng thị phần thêm 2,9% trong hai năm vừa qua.

Hai vị trí tiếp theo là Prudential và Manulife, cùng với thị phần 16%, dù thứ bậc không thay đổi nhưng thị phần hai doanh nghiệp này giảm lần lượt 1,7% và 1%. Dai-ichi đứng ở vị trí thứ 4, tăng nhẹ thị phần lên 13%; AIA đứng thứ 5 với 10%.

Thị phần các doanh nghiệp còn lại là: FWD (3,4%), Chubb (3,2%), MB Ageas (3%), Generali (3%), Hanwha (2,5%), Sun Life (2,4%), Cathay (2,1%), MVI (1,6%), BIDV Metlife (1,1%). Các doanh nghiệp còn lại chiếm thị phần nhỏ dưới 1%.

Trong năm 2024, tổng số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm (bao gồm chi trả giá trị hoàn lại, chi đáo hạn, sự kiện bảo hiểm) ước đạt 71.387 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2023. Con số này giúp các gia đình duy trì tài chính ổn định trước những biến cố bất ngờ trong cuộc sống, điều này thể hiện vai trò bảo vệ vững chắc của bảo hiểm nhân thọ đối với con người trước những rủi ro.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80