Sacombank báo lãi gần 11.000 tỷ đồng, dư nợ cho vay vượt 600 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - Sacombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9 tháng 2025 gần 11.000 tỷ đồng, tăng 35,8% cùng kỳ, nhờ thu nhập lãi thuần tăng mạnh, chi phí hoạt động được kiểm soát và dự phòng giảm. Nhiều chỉ tiêu đạt kết quả tích cực khi tổng tài sản “về đích” sớm; dư nợ cho vay vượt 600 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4%; ngân hàng cũng đang bước vào giai đoạn "nước rút" của tiến trình tái cơ cấu.
aa
Sacombank sẽ hoàn thành Đề án tái cơ cấu trong năm 2024 Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa công bố báo cáo tài chính quý III/2025.

Theo báo cáo tài chính mới công bố, lợi nhuận trước thuế của Sacombank quý III/2025 đạt 3.657 tỷ đồng, tăng mạnh 32,9% cùng kỳ, đưa lãi trước thuế 9 tháng 2025 lên 10.988 tỷ đồng, tăng 35,8% so với cùng kỳ.

Động lực tăng trưởng lớn nhất đến từ thu nhập lãi thuần, nguồn đóng góp 87% thu nhập hoạt động của ngân hàng trong 9 tháng, tăng 15,7% cùng kỳ lên 21.323 tỷ đồng.

Song song đó, thu nhập ngoài lãi duy trì đà tăng 7% cùng kỳ. Trong đó, hoạt động dịch vụ đem lại lãi thuần 2.320 tỷ đồng, tăng 6,3% cùng kỳ, góp phần bù đắp cho mức giảm của hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập khác. Nhờ vậy, tổng thu nhập hoạt động của Sacombank đạt 24.362 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ.

Sacombank báo lãi gần 11.000 tỷ đồng, dư nợ cho vay vượt 600 nghìn tỷ đồng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.
Sacombank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động 9 tháng 2025 đạt 24,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể mức tăng lợi nhuận trước thuế (35,8%). Nhờ chi phí hoạt động được tiết chế, chi phí dự phòng giảm 8,1% tạo lực đẩy giúp lợi nhuận trước thuế của Sacombank bật tăng gần 36%, lên 10.988 tỷ đồng.

Ở chiều chi phí, ngân hàng kiểm soát tốt chi phí hoạt động khi chỉ tăng 3,6%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu, giúp hệ số CIR (tỷ lệ chi phí/thu nhập) cải thiện rõ rệt. Cùng với đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 8,1%, xuống 2.152 tỷ đồng.

Trong báo cáo phân tích về Sacombank, nhóm phân tích nhiều công ty chứng khoán cho rằng, khả năng cao là Sacombank đã ghi nhận phần lớn khoản thu từ việc bán nợ tại dự án khu công nghiệp Phong Phú.

Việc thu hồi và xử lý dứt điểm các khoản tồn đọng không chỉ giúp Sacombank giải phóng một phần tài sản kéo dài nhiều năm, mà còn mang lại dòng tiền đáng kể trong năm 2025. Đây cũng được xem là cột mốc quan trọng trong hành trình 10 năm sau sáp nhập Southern Bank, đánh dấu giai đoạn Sacombank dần hoàn tất tái cơ cấu, tháo gỡ những “nút thắt” cuối cùng và mở ra cơ hội tăng vốn, chia cổ tức cho cổ đông.

Dù vậy, nợ nhóm 2 có xu hướng tăng, Sacombank trích lập thêm 4.600 tỷ đồng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng. Điều này giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng lên 93,3%, cao hơn 18,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ và 17,8 điểm phần trăm so với quý trước, qua đó củng cố bộ đệm an toàn tài chính.

Tính đến cuối tháng 9/2025, tổng tài sản của Sacombank đạt 848.942 tỷ đồng, tăng 13,5% so với đầu năm và hoàn thành 103,5% kế hoạch năm (819.800 tỷ đồng). Trong đó, tăng trưởng cho vay khách hàng 9 tháng đạt 12,4% lên 606.048 tỷ đồng. Đây là kết quả tích cực khi xét đến đặc thù hoạt động tập trung tại khu vực phía Nam, nơi tăng trưởng tín dụng chậm hơn phía Bắc và ngân hàng không ưu tiên đạt mức tăng trưởng tín dụng mạnh như các ngân hàng khác.

Cùng với đó, tiền gửi khách hàng tăng 13,1% trong khi tổng nguồn vốn huy động (bao gồm tiền gửi và giấy tờ có giá) tăng 12,6%, tương ứng với tốc độ tăng của tín dụng. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) chiếm 15,5% trong quý III/2025, đạt khoảng 99 nghìn tỷ đồng.

Song song với củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), sinh trắc học và thanh toán không tiếp xúc. Hàng loạt sản phẩm và dịch vụ mới được ra mắt, không chỉ nâng cao trải nghiệm khách hàng mà còn góp phần định hình xu hướng tiêu dùng tài chính hiện đại và phát triển các giải pháp ngân hàng xanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30