Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37%, dự kiến cả năm có thể đạt tới 20%. Các ngân hàng chủ lực đẩy mạnh "điều hướng" tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng.
aa

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính tới cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37% so với đầu năm, duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước, với sự dẫn dắt mạnh mẽ từ các ngân hàng chủ lực.

Dẫn dắt dòng vốn tín dụng đi đúng hướng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng dư nợ tín dụng của BIDV đạt khoảng 2,2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng xấp xỉ 9%.

Với BIDV, đây là một sự nỗ lực lớn, vì quy mô dư nợ tín dụng của ngân hàng này đang chiếm tỷ trọng lớn nhất thị trường. Trong cơ cấu tín dụng của BIDV, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt trên 431.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa xấp xỉ 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 14%. Cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có mức tăng trưởng cao nhất, đạt khoảng 43,8%.

Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Phương Anh

Ngoài ra, các sản phẩm cho vay cá nhân, phục vụ người tiêu dùng cũng được BIDV chú trọng thông qua các gói hỗ trợ cá nhân khởi nghiệp, tiểu thương, hộ gia đình với lãi suất ưu đãi. BIDV cũng đang nghiên cứu triển khai các chương trình hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.

"Đảng và Nhà nước có những cơ chế, chính sách rất trúng, rất đúng tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp. Cùng với đó là sự vào cuộc của cả xã hội, với niềm tin và sự hứng khởi lớn. Đây cũng chính là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của ngân hàng" - Phó Tổng Giám đốc BIDV nhận định.

Theo bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank, tăng trưởng tín dụng 9 tháng năm 2025 đạt kết quả tích cực trong bối cảnh các ngành nghề của nền kinh tế đều có sự tăng trưởng. Đúng với mục tiêu và định hướng, Agribank tiếp tục tập trung tín dụng chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt áp lực lạm phát

"Ngân hàng Nhà nước thường xuyên, liên tục, bền bỉ điều hành giữ thanh khoản, giúp các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, ổn định và hạ lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc Ngân hàng Nhà nước thường xuyên cung ứng vốn cho nền kinh tế không có nghĩa là chủ quan với lạm phát, bởi lạm phát và tăng trưởng là 2 mặt. Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt chẽ áp lực lạm phát trong quá trình cung ứng tiền cho nền kinh tế. Nhờ đó, lãi suất cho vay bình quân đã giảm khoảng 0,4% tính từ đầu năm đến nay".

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước

"Tính đến ngày 30/9, dư nợ tín dụng của Agribank tăng 12% so với đầu năm (trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ tăng 6%) và vẫn tập trung tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân" - bà Bình cho biết.

Với khách hàng pháp nhân, Agribank mở rộng cấp tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty trong lĩnh vực sản xuất; riêng bất động sản chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tín dụng.

Dồn vốn cho sản xuất, kinh doanh khi tín dụng bứt tốc cuối năm

Giai đoạn cuối năm, nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh thường tăng mạnh, tín dụng có xu hướng bứt tốc để đáp ứng dòng vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Ông Lại Tiến Quân cho hay, BIDV sẽ dành nguồn lực để phục vụ nhu cầu của nền kinh tế. Trong đó, ngân hàng đã và đang triển khai đồng bộ 14 gói tín dụng với tổng quy mô hơn 1,1 triệu tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong các lĩnh vực như chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, hạ tầng, logistics, năng lượng, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn…

Trong khi đó, Agribank cũng tích cực triển khai các gói tín dụng ưu đãi. Bà Phùng Thị Bình chia sẻ, quy mô ban đầu của gói tín dụng nông, lâm, thủy sản (thời điểm tháng 7/2023) chỉ là 3.000 tỷ đồng, nhưng qua 4 lần nâng quy mô đã đạt 25.000 tỷ đồng. Đến nay, Agribank đã giải ngân 14.000 tỷ đồng, dư nợ còn lại là 5.000 tỷ đồng, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, Agribank còn tập trung vào tín dụng nhà ở xã hội, dự kiến thẩm định, phê duyệt thêm 11 dự án với số tiền đề xuất 5.000 tỷ đồng. Gói tín dụng nhà ở xã hội dự kiến sẽ giải ngân tốt, bởi tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, có nhiều dự án đã được phê duyệt.

Nhấn mạnh tăng trưởng tín dụng phải gắn liền với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng vốn vay, bà Bình cho biết, đây là nguyên tắc xuyên suốt trong điều hành của Agribank, tuyệt đối không chạy theo mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Đặc biệt, đối với những lĩnh vực có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, gặp nhiều khó khăn, ngân hàng sẽ hạn chế cấp tín dụng. "Agribank đặt mục tiêu đến cuối năm 2025 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 1%" - bà Bình thông tin.

Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Dự kiến, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt 19 - 20%, mức cao nhất nhiều năm. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp để định hướng thị trường giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Chia sẻ tại họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước kiên trì mục tiêu giảm lãi suất cho vay từ năm 2022 đến nay thông qua nhiều giải pháp. Các ngân hàng đã cắt giảm chi phí hoạt động, tinh giản nhân sự, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, qua đó, góp phần hạ mặt bằng lãi suất.

Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục rà soát, giám sát việc phân bổ tín dụng để hạn chế rủi ro nợ xấu phát sinh, đồng thời điều hành cung ứng vốn chặt chẽ. Ông Phạm Chí Quang nhấn mạnh, từ nay đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng sẽ được duy trì, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP đạt 8,3 - 8,5% trong năm 2025 và tạo nền tảng để nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong giai đoạn tiếp theo.

Điều hành chủ động, hướng vốn vào lĩnh vực ưu tiên

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, những tháng cuối năm, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác, góp phần ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để giảm lãi suất cho vay.

Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế và trong nước, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đồng thời, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Cùng với đó, chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tín dụng xanh, tín dụng phục vụ phát triển các thế mạnh của vùng, địa phương; thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30