Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37%, dự kiến cả năm có thể đạt tới 20%. Các ngân hàng chủ lực đẩy mạnh "điều hướng" tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng.
aa

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính tới cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37% so với đầu năm, duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước, với sự dẫn dắt mạnh mẽ từ các ngân hàng chủ lực.

Dẫn dắt dòng vốn tín dụng đi đúng hướng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng dư nợ tín dụng của BIDV đạt khoảng 2,2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng xấp xỉ 9%.

Với BIDV, đây là một sự nỗ lực lớn, vì quy mô dư nợ tín dụng của ngân hàng này đang chiếm tỷ trọng lớn nhất thị trường. Trong cơ cấu tín dụng của BIDV, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt trên 431.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa xấp xỉ 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 14%. Cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có mức tăng trưởng cao nhất, đạt khoảng 43,8%.

Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Phương Anh

Ngoài ra, các sản phẩm cho vay cá nhân, phục vụ người tiêu dùng cũng được BIDV chú trọng thông qua các gói hỗ trợ cá nhân khởi nghiệp, tiểu thương, hộ gia đình với lãi suất ưu đãi. BIDV cũng đang nghiên cứu triển khai các chương trình hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.

"Đảng và Nhà nước có những cơ chế, chính sách rất trúng, rất đúng tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp. Cùng với đó là sự vào cuộc của cả xã hội, với niềm tin và sự hứng khởi lớn. Đây cũng chính là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của ngân hàng" - Phó Tổng Giám đốc BIDV nhận định.

Theo bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank, tăng trưởng tín dụng 9 tháng năm 2025 đạt kết quả tích cực trong bối cảnh các ngành nghề của nền kinh tế đều có sự tăng trưởng. Đúng với mục tiêu và định hướng, Agribank tiếp tục tập trung tín dụng chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt áp lực lạm phát

"Ngân hàng Nhà nước thường xuyên, liên tục, bền bỉ điều hành giữ thanh khoản, giúp các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, ổn định và hạ lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc Ngân hàng Nhà nước thường xuyên cung ứng vốn cho nền kinh tế không có nghĩa là chủ quan với lạm phát, bởi lạm phát và tăng trưởng là 2 mặt. Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt chẽ áp lực lạm phát trong quá trình cung ứng tiền cho nền kinh tế. Nhờ đó, lãi suất cho vay bình quân đã giảm khoảng 0,4% tính từ đầu năm đến nay".

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước

"Tính đến ngày 30/9, dư nợ tín dụng của Agribank tăng 12% so với đầu năm (trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ tăng 6%) và vẫn tập trung tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân" - bà Bình cho biết.

Với khách hàng pháp nhân, Agribank mở rộng cấp tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty trong lĩnh vực sản xuất; riêng bất động sản chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tín dụng.

Dồn vốn cho sản xuất, kinh doanh khi tín dụng bứt tốc cuối năm

Giai đoạn cuối năm, nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh thường tăng mạnh, tín dụng có xu hướng bứt tốc để đáp ứng dòng vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Ông Lại Tiến Quân cho hay, BIDV sẽ dành nguồn lực để phục vụ nhu cầu của nền kinh tế. Trong đó, ngân hàng đã và đang triển khai đồng bộ 14 gói tín dụng với tổng quy mô hơn 1,1 triệu tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong các lĩnh vực như chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, hạ tầng, logistics, năng lượng, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn…

Trong khi đó, Agribank cũng tích cực triển khai các gói tín dụng ưu đãi. Bà Phùng Thị Bình chia sẻ, quy mô ban đầu của gói tín dụng nông, lâm, thủy sản (thời điểm tháng 7/2023) chỉ là 3.000 tỷ đồng, nhưng qua 4 lần nâng quy mô đã đạt 25.000 tỷ đồng. Đến nay, Agribank đã giải ngân 14.000 tỷ đồng, dư nợ còn lại là 5.000 tỷ đồng, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, Agribank còn tập trung vào tín dụng nhà ở xã hội, dự kiến thẩm định, phê duyệt thêm 11 dự án với số tiền đề xuất 5.000 tỷ đồng. Gói tín dụng nhà ở xã hội dự kiến sẽ giải ngân tốt, bởi tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, có nhiều dự án đã được phê duyệt.

Nhấn mạnh tăng trưởng tín dụng phải gắn liền với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng vốn vay, bà Bình cho biết, đây là nguyên tắc xuyên suốt trong điều hành của Agribank, tuyệt đối không chạy theo mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Đặc biệt, đối với những lĩnh vực có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, gặp nhiều khó khăn, ngân hàng sẽ hạn chế cấp tín dụng. "Agribank đặt mục tiêu đến cuối năm 2025 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 1%" - bà Bình thông tin.

Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Dự kiến, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt 19 - 20%, mức cao nhất nhiều năm. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp để định hướng thị trường giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Chia sẻ tại họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước kiên trì mục tiêu giảm lãi suất cho vay từ năm 2022 đến nay thông qua nhiều giải pháp. Các ngân hàng đã cắt giảm chi phí hoạt động, tinh giản nhân sự, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, qua đó, góp phần hạ mặt bằng lãi suất.

Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục rà soát, giám sát việc phân bổ tín dụng để hạn chế rủi ro nợ xấu phát sinh, đồng thời điều hành cung ứng vốn chặt chẽ. Ông Phạm Chí Quang nhấn mạnh, từ nay đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng sẽ được duy trì, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP đạt 8,3 - 8,5% trong năm 2025 và tạo nền tảng để nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong giai đoạn tiếp theo.

Điều hành chủ động, hướng vốn vào lĩnh vực ưu tiên

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, những tháng cuối năm, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác, góp phần ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để giảm lãi suất cho vay.

Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế và trong nước, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đồng thời, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Cùng với đó, chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tín dụng xanh, tín dụng phục vụ phát triển các thế mạnh của vùng, địa phương; thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
Kim TT/AVPL 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
Nguyên Liệu 99.99 13,560 ▼40K 13,760 ▼40K
Nguyên Liệu 99.9 13,510 ▼40K 13,710 ▼40K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 ▼40K 14,560 ▼40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 ▼40K 14,510 ▼40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 ▼40K 14,490 ▼40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 ▼400K 151,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▼40K 15,100 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 ▼140K 15,000 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 ▼140K 15,000 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 ▼140K 15,000 ▼140K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 ▼140K 14,890 ▼140K
Trang sức 99.99 14,200 ▼140K 14,900 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▼1336K 15,102 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▼1336K 15,103 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▼4K 1,509 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▼4K 151 ▼1363K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▼4K 1,494 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 ▼396K 147,921 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 ▼300K 112,211 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 ▼272K 101,752 ▼272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 ▼244K 91,293 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 ▼233K 87,259 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 ▼167K 62,456 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▼1336K 151 ▼1363K
Cập nhật: 06/07/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/07/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80