Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37%, dự kiến cả năm có thể đạt tới 20%. Các ngân hàng chủ lực đẩy mạnh "điều hướng" tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng.
aa

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính tới cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,37% so với đầu năm, duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước, với sự dẫn dắt mạnh mẽ từ các ngân hàng chủ lực.

Dẫn dắt dòng vốn tín dụng đi đúng hướng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2025, tổng dư nợ tín dụng của BIDV đạt khoảng 2,2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng xấp xỉ 9%.

Với BIDV, đây là một sự nỗ lực lớn, vì quy mô dư nợ tín dụng của ngân hàng này đang chiếm tỷ trọng lớn nhất thị trường. Trong cơ cấu tín dụng của BIDV, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt trên 431.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa xấp xỉ 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 14%. Cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có mức tăng trưởng cao nhất, đạt khoảng 43,8%.

Tín dụng bứt tốc, vốn đổ vào các khu vực tạo động lực cho tăng trưởng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Phương Anh

Ngoài ra, các sản phẩm cho vay cá nhân, phục vụ người tiêu dùng cũng được BIDV chú trọng thông qua các gói hỗ trợ cá nhân khởi nghiệp, tiểu thương, hộ gia đình với lãi suất ưu đãi. BIDV cũng đang nghiên cứu triển khai các chương trình hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai.

"Đảng và Nhà nước có những cơ chế, chính sách rất trúng, rất đúng tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp. Cùng với đó là sự vào cuộc của cả xã hội, với niềm tin và sự hứng khởi lớn. Đây cũng chính là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của ngân hàng" - Phó Tổng Giám đốc BIDV nhận định.

Theo bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank, tăng trưởng tín dụng 9 tháng năm 2025 đạt kết quả tích cực trong bối cảnh các ngành nghề của nền kinh tế đều có sự tăng trưởng. Đúng với mục tiêu và định hướng, Agribank tiếp tục tập trung tín dụng chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt áp lực lạm phát

"Ngân hàng Nhà nước thường xuyên, liên tục, bền bỉ điều hành giữ thanh khoản, giúp các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, ổn định và hạ lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc Ngân hàng Nhà nước thường xuyên cung ứng vốn cho nền kinh tế không có nghĩa là chủ quan với lạm phát, bởi lạm phát và tăng trưởng là 2 mặt. Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt chẽ áp lực lạm phát trong quá trình cung ứng tiền cho nền kinh tế. Nhờ đó, lãi suất cho vay bình quân đã giảm khoảng 0,4% tính từ đầu năm đến nay".

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước

"Tính đến ngày 30/9, dư nợ tín dụng của Agribank tăng 12% so với đầu năm (trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ tăng 6%) và vẫn tập trung tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân" - bà Bình cho biết.

Với khách hàng pháp nhân, Agribank mở rộng cấp tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty trong lĩnh vực sản xuất; riêng bất động sản chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tín dụng.

Dồn vốn cho sản xuất, kinh doanh khi tín dụng bứt tốc cuối năm

Giai đoạn cuối năm, nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh thường tăng mạnh, tín dụng có xu hướng bứt tốc để đáp ứng dòng vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Ông Lại Tiến Quân cho hay, BIDV sẽ dành nguồn lực để phục vụ nhu cầu của nền kinh tế. Trong đó, ngân hàng đã và đang triển khai đồng bộ 14 gói tín dụng với tổng quy mô hơn 1,1 triệu tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong các lĩnh vực như chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, hạ tầng, logistics, năng lượng, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn…

Trong khi đó, Agribank cũng tích cực triển khai các gói tín dụng ưu đãi. Bà Phùng Thị Bình chia sẻ, quy mô ban đầu của gói tín dụng nông, lâm, thủy sản (thời điểm tháng 7/2023) chỉ là 3.000 tỷ đồng, nhưng qua 4 lần nâng quy mô đã đạt 25.000 tỷ đồng. Đến nay, Agribank đã giải ngân 14.000 tỷ đồng, dư nợ còn lại là 5.000 tỷ đồng, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, Agribank còn tập trung vào tín dụng nhà ở xã hội, dự kiến thẩm định, phê duyệt thêm 11 dự án với số tiền đề xuất 5.000 tỷ đồng. Gói tín dụng nhà ở xã hội dự kiến sẽ giải ngân tốt, bởi tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, có nhiều dự án đã được phê duyệt.

Nhấn mạnh tăng trưởng tín dụng phải gắn liền với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng vốn vay, bà Bình cho biết, đây là nguyên tắc xuyên suốt trong điều hành của Agribank, tuyệt đối không chạy theo mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Đặc biệt, đối với những lĩnh vực có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, gặp nhiều khó khăn, ngân hàng sẽ hạn chế cấp tín dụng. "Agribank đặt mục tiêu đến cuối năm 2025 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 1%" - bà Bình thông tin.

Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Dự kiến, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt 19 - 20%, mức cao nhất nhiều năm. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp để định hướng thị trường giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Chia sẻ tại họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III/2025, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Ngân hàng Nhà nước kiên trì mục tiêu giảm lãi suất cho vay từ năm 2022 đến nay thông qua nhiều giải pháp. Các ngân hàng đã cắt giảm chi phí hoạt động, tinh giản nhân sự, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, qua đó, góp phần hạ mặt bằng lãi suất.

Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục rà soát, giám sát việc phân bổ tín dụng để hạn chế rủi ro nợ xấu phát sinh, đồng thời điều hành cung ứng vốn chặt chẽ. Ông Phạm Chí Quang nhấn mạnh, từ nay đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng sẽ được duy trì, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP đạt 8,3 - 8,5% trong năm 2025 và tạo nền tảng để nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong giai đoạn tiếp theo.

Điều hành chủ động, hướng vốn vào lĩnh vực ưu tiên

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, những tháng cuối năm, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác, góp phần ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ. Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để giảm lãi suất cho vay.

Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế và trong nước, điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đồng thời, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Cùng với đó, chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tín dụng xanh, tín dụng phục vụ phát triển các thế mạnh của vùng, địa phương; thực hiện các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80