Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sacombank đặt mục tiêu tăng trưởng tích cực năm 2025 với lợi nhuận trước thuế kỳ vọng đạt 14.650 tỷ đồng, tăng 15%. Kỳ vọng được phê duyệt Đề án tái cơ cấu thành công, ngân hàng lần đầu tiên sau 9 năm lên kế hoạch chia cổ tức, mở ra cơ hội tăng vốn và phát triển quy mô dài hạn.
aa
Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào? Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức "Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ngày 25/04 tại TP. Hồ Chí Minh, Sacombank tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông năm tài chính 2024. Đại hội thống nhất thông qua nhiều nội dung quan trọng như: báo cáo kết quả hoạt động năm 2024 và định hướng, mục tiêu năm 2025; phương án phân phối lợi nhuận năm 2024 và kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2025; tờ trình chủ trương tăng vốn điều lệ; tờ trình chủ trương góp vốn/mua cổ phần công ty chứng khoán…

Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, mở rộng hệ sinh thái

Kế hoạch kinh doanh của Sacombank năm 2025 được công bố với các chỉ tiêu tăng trưởng khả quan từ 10 - 15%. Theo đó, tổng tài sản dự kiến tăng 10%, đạt 819.800 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng sẽ tăng 14%, lên 614.400 tỷ đồng và sẽ điều chỉnh theo hạn mức phân bổ.

Nguồn vốn huy động dự kiến tăng 9%, đạt 736.300 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu sẽ được kiểm soát dưới 2%, các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động tuân thủ đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Lợi nhuận trước thuế kỳ vọng đạt 14.650 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2024.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Ngân hàng xây dựng danh mục tín dụng là đảm bảo tối ưu giữa hiệu quả hoạt động và kiểm soát rủi ro. Chiến lược tăng trưởng tín dụng của ngân hàng luôn gắn liền với quản trị an toàn vốn và ưu tiên cấp tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thiết yếu như: nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến và sản xuất...

Theo Sacombank, đây là năm đầu tiên sau 9 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu, ngân hàng lên kế hoạch chia cổ tức cho cổ đông trong bối cảnh ngân hàng gặt hái được nhiều thành quả tích cực.

Tái cơ cấu về đích, "mở khoá" chia cổ tức và tăng vốn

Về vấn đề chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, tờ trình nêu rõ, sau khi được NHNN chấp thuận, Hội đồng Quản trị sẽ xây dựng phương án chi tiết và lấy ý kiến cổ đông trước khi triển khai. Hiện lợi nhuận hợp nhất giữ lại chưa phân phối của Sacombank lũy kế lên tới 25.352 tỷ đồng. Sacombank sẵn sàng cả về trách nhiệm và nghĩa vụ, kỳ vọng sẽ được phê duyệt tái cơ cấu thành công trong năm nay, mở đường cho các chiến lược phát triển quy mô và đột phá hơn.

Thông tin từ Sacombank cho thấy, ngân hàng đã xử lý thêm 76.695 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng thuộc Đề án, giảm tỷ trọng của hạng mục này trong tổng tài sản xuống còn 2,4%.

Đặc biệt, Sacombank hoàn tất xử lý toàn bộ 21.576 tỷ đồng lãi dự thu được khoanh thuộc Đề án và trích lập 100% dự phòng cho toàn bộ danh mục nợ tồn đọng còn lại chưa xử lý.

Đáng chú ý, trong tài liệu công bố trước đó, Sacombank từng dự kiến tiếp tục không chia cổ tức năm thứ 11 liên tiếp, với kế hoạch giữ lại toàn bộ lợi nhuận lũy kế 25.352 tỷ đồng.

Tuy nhiên, sau đó Sacombank bổ sung một số tờ trình mới, trong đó đề xuất phát hành cổ phiếu để chia cổ tức cho cổ đông hiện hữu và phát hành cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên, nhằm mục tiêu tăng vốn điều lệ sau 10 năm duy trì ở mức 18.852 tỷ đồng.

Sacombank cũng trình phương án dự kiến đầu tư tối đa 1.500 tỷ đồng để góp vốn hoặc mua cổ phần tại một công ty chứng khoán, với tỷ lệ sở hữu vượt 50%, đưa công ty chứng khoán trở thành công ty con của ngân hàng, nhằm mở rộng hệ sinh thái và đáp ứng nhu cầu sử dụng các sản phẩm tài chính toàn diện của khách hàng.

Duy trì đà tăng trưởng ấn tượng dù chưa tăng vốn gần một thập kỷ

Tại đại hội Sacombank, cổ đông quan tâm đến nhiều vấn đề quan trọng như việc xử lý cổ phần của ông Trầm Bê, thông tin về khoản nợ đang được thế chấp tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); xử lý các khoản nợ thuộc Khu công nghiệp Phong Phú.

Bên cạnh đó, cổ đông cũng quan tâm về chiến lược huy động vốn; khả năng xử lý nợ xấu; kế hoạch mua công ty chứng khoán và tình hình kinh doanh trong quý I của Sacombank.

Liên quan đến việc xử lý các khoản nợ đảm bảo bằng cổ phiếu STB của ông Trầm Bê và người có liên quan, Sacombank trình các phương án xử lý và đang chờ sự phê duyệt từ NHNN. Ngân hàng trích lập dự phòng 100% đối với dư nợ gốc của khoản nợ xấu trên, cũng như thoái hoàn toàn lãi dự thu từ cuối quý II/2022.

Về phương án mua lại công ty chứng khoán, theo lãnh đạo Sacombank, ngân hàng không có kế hoạch mua lại Công ty chứng khoán SBS, thay vào đó, sẽ lựa chọn những công ty chứng khoán có chất lượng tốt, sở hữu dịch vụ phù hợp nhằm phục vụ chiến lược phát triển trong lĩnh vực đầu tư.

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm
Chủ tọa đoàn Đại hội đồng cổ đông thường niên năm tài chính 2024 của Sacombank. Ảnh: Sacombank.

Trước đó, dù bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đối diện với nhiều thách thức, Sacombank hoàn thành khá toàn diện kế hoạch đặt ra nhờ bám sát chính sách tiền tệ của NHNN, chuyển đổi số hiệu quả, đón đầu sự dịch chuyển các xu hướng sản xuất và tiêu dùng.

Những thành quả ấn tượng này được Sacombank kiến tạo trong điều kiện chưa được tăng vốn điều lệ kể từ năm 2016, một yếu tố đang giới hạn quy mô và năng lực cạnh tranh của Sacombank. Việc ngân hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao cho thấy khả năng vận hành linh hoạt, khai thác tối đa nguồn lực hiện hữu và quản trị rủi ro chặt chẽ.

Cụ thể, lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 12.720 tỷ đồng, tăng 32,6% so với cùng kỳ. Tăng trưởng tín dụng đạt 11,7%, nâng tổng dư nợ chạm mốc 539.315 tỷ đồng, chiếm 3,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Tổng nguồn vốn huy động tăng mạnh 16,7% vượt 106% kế hoạch. Trong đó, huy động từ thị trường 1 chiếm tỷ trọng cao (85,6%), riêng CASA tăng 9,3%, giúp Sacombank duy trì nguồn vốn ổn định và chi phí vốn cạnh tranh. Tỷ lệ ROA, ROE tăng ổn định, lần lượt đạt 1,42% và 20,03%.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát ở mức 2,08%, giảm nhẹ so với đầu năm. Các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động tuân thủ đúng theo quy định của NHNN. Đáng chú ý, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức 10,14% - cao hơn đáng kể so với mức 8% theo quy định, cho thấy Sacombank vẫn duy trì được biên độ tài chính an toàn.

Với phương châm chuyển đổi - hiệu quả - bền vững, Sacombank tiếp tục số hóa toàn diện, đặc biệt là ứng dụng AI để nâng cao năng suất lao động và gia tăng trải nghiệm khách hàng. Ngân hàng đồng thời kiểm soát chi phí hiệu quả, tối ưu hóa mô hình vận hành, phát triển hệ sinh thái đối tác, nhất là đối tác công nghệ và triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ độc đáo, thu hút và tăng trưởng mạnh mẽ quy mô khách hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 30/03/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80