Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đầu tháng 2/2025, bên cạnh một quỹ ngoại vừa rút toàn bộ vốn tại Sacombank, hai quỹ ngoại khác cũng giảm tỷ lệ nắm giữ. Trước đó, năm 2024, ngân hàng này ghi nhận mức lãi sau thuế kỷ lục, đạt 10,1 nghìn tỷ đồng, một phần do trích lập dự phòng thấp cùng khoản hoàn nhập dự phòng nợ xấu lớn.
aa

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã chứng khoán: STB) vừa công bố thông tin cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên.

Ba quỹ ngoại thoái vốn

Trong danh sách công bố đầu tháng 2/2025 có 5 cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, nắm giữ tổng cộng gần 259,2 triệu cổ phiếu, tương đương 13,74% vốn điều lệ Sacombank.

So với lần cập nhật giữa tháng 1/2025, trong danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên không còn quỹ Amersham Industries Limited - một quỹ thành viên thuộc nhóm Dragon Capital chỉ sau thời gian ngắn nắm giữ.

Trước đó, quỹ Amersham Industries Limited nắm giữ hơn 19 triệu cổ phiếu, tương ứng 1,01% vốn điều lệ ngân hàng. Các bên liên quan đến quỹ này cũng sở hữu hơn 20,7 triệu cổ phiếu STB, tương đương 1,1%.

Bên cạnh đó, một quỹ khác thuộc Dragon Capital là Norges Bank cũng bán ra 3 triệu cổ phiếu, giảm tỷ lệ sở hữu từ 1,27% xuống còn 1,1%, hiện nắm 20,97 triệu cổ phiếu STB.

Quỹ Pyn Elite Fund vẫn là cổ đông tổ chức lớn nhất tại Sacombank cũng bán ra hơn 10,8 triệu cổ phiếu và hiện còn sở hữu gần 115,8 triệu cổ phiếu, tương đương 6,14% vốn điều lệ của Sacombank.

Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào?
Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn khỏi ngân hàng Sacombank. Ảnh tư liệu

Ở chiều ngược lại, SCB Vietnam Alpha Fund Not For Retail Investors là quỹ duy nhất trong danh sách nâng tỷ lệ sở hữu khi mua vào 2,7 triệu cổ phiếu và nâng tỷ lệ sở hữu lên 29,6 triệu cổ phiếu, tương đương 1,57% vốn Sacombank.

Còn quỹ Tianhong Vietnam Thematic Fund (QDII) tiếp tục giữ nguyên số lượng cổ phiếu nắm giữ ở mức 30,25 triệu cổ phiếu, tương đương 1,6% vốn điều lệ.

Trong danh sách này, ông Dương Công Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank là cá nhân duy nhất, sở hữu gần 62,57 triệu cổ phiếu, chiếm 3,32% vốn điều lệ. Người có liên quan là em gái ông Minh, bà Dương Thị Liêm, hiện nắm giữ 11,86 triệu cổ phiếu, tương ứng 0,63% vốn Sacombank.

Lợi nhuận vượt dự báo nhờ hoàn nhập dự phòng nợ xấu

Trong năm 2024, thu nhập lãi thuần của nhà băng này đạt trên 24,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% cùng kỳ. Tổng thu nhập ngoài lãi đạt 4,1 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 1,1% cùng kỳ. Việc tăng trưởng các mảng phi tín dụng đi ngang so với cùng kỳ năm trước là do doanh số mảng bán bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) liên tục ghi nhận ở mức thấp và doanh thu từ việc thu hồi các khoản nợ xấu đã xử lý giảm.

Theo Chứng khoán Vietcap, chi phí dự phòng năm 2024 của Sacombank giảm 46,5% cùng kỳ, với chi phí tín dụng hàng năm giảm xuống chỉ còn 0,37% (thấp hơn so với mức 0,76% trong năm 2023). Nguyên nhân của sự cải thiện này một phần xuất phát từ áp lực dự phòng từ VAMC giảm và việc thu hồi nợ xấu thành công của Sacombank dẫn đến mức hoàn nhập dự phòng đáng kể trong quý IV/2024. Sacombank báo cáo khoản hoàn nhập chi phí dự phòng ròng trong quý IV/2024 là 367 tỷ đồng.

Lãi cao kỷ lục trên 10.000 tỷ đồng

Về tình hình kinh doanh, Sacombank đã công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với thu nhập từ hoạt động kinh doanh (TOI) đạt 28,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế đạt 10,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30,7% cùng kỳ, một phần do chi phí dự phòng thấp hơn dự kiến đã giúp lợi nhuận vượt dự kiến. Đây là mức lãi cao nhất lịch sử hoạt động của ngân hàng này và vượt chỉ tiêu được Đại hội đồng cổ đông giao.

Cũng theo Vietcap, tăng trưởng tín dụng năm 2024 của Sacombank đạt 11,7%, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là 15,08% và hạn mức tín dụng năm 2024 của Sacombank khoảng 13%. Điều này là do mức nhu cầu tín dụng yếu từ khách hàng bán lẻ và sự cạnh tranh gay gắt trong mảng cho vay giữa các ngân hàng.

Tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2024 đạt 11%, gần tương đương với tốc độ tăng trưởng tín dụng, với tiền gửi quý IV/2024 đi ngang so với quý trước. Trong quý IV/2024, tỷ lệ CASA của Sacombank tăng nhẹ lên mức 18,3%, tăng 64 điểm cơ bản so với quý trước.

So với cùng kỳ quý trước, NIM (biên lãi ròng) quý IV/2024 của Sacombank giảm 27 điểm cơ bản xuống 3,52%, tương tự xu hướng của các ngân hàng bán lẻ. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ mức tăng của chi phí huy động vốn khi các ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi trong 6 tháng qua, cùng với áp lực lên lợi suất tài sản do cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Tính chung cả năm 2024, NIM của Sacombank giảm 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống 3,72%.

Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào?
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của Sacombank.

Chất lượng tài sản quý IV/2024 của Sacombank đi ngang so với cùng kỳ quý trước với tỷ lệ nợ xấu là 2,4%, giảm 7 điểm cơ bản so với quý trước song tăng 13 điểm cơ bản cùng kỳ năm trước. Ngược lại, tỷ lệ hình thành nợ xấu của Sacombank trong quý IV/2024 tăng so với quý III, với tỷ lệ nợ nhóm 2 trong tổng dư nợ tăng 5 điểm cơ bản so với quý trước, lên mức 0,77%.

Nợ xấu nhóm 3-5 ở mức 12.957 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 2,4%. Trong đó, nợ xấu nhóm 3 tương đương cùng kỳ, nợ xấu nhóm 4 giảm 75%, tương ứng gần 2.000 tỷ đồng, Trong khi đó, nợ xấu nhóm 5 có khả năng mất vốn lại tăng gần gấp đôi cuối năm 2023, lên mức 8.870 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) ở mức thấp so với nhiều năm, đạt 68,43%, giảm 4 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

Ngoài ra, tính đến cuối năm 2024, Sacombank còn số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) gần 1.700 tỷ đồng, giảm mạnh so với những năm trước đây. Đây là những khoản nợ khó đòi, được bán sang VAMC nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng và xử lý nợ thông qua VAMC. Tuy nhiên, bán nợ cho VAMC không giúp các ngân hàng thoát khỏi gánh nặng nợ xấu, bởi các khoản nợ này vẫn có khả năng quay lại nếu sau 5 năm chưa được xử lý./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Kim TT/AVPL 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 ▲50K 14,790 ▲50K
Trang sức 99.99 14,100 ▲50K 14,800 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 ▲1323K 14,992 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 ▲1323K 14,993 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 ▲7K 1,494 ▲7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 ▲7K 1,495 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 ▲7K 1,474 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 ▲693K 145,941 ▲693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲525K 110,711 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 ▲476K 100,392 ▲476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 ▲427K 90,073 ▲427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 ▲408K 86,093 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 ▲46669K 61,622 ▲55489K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cập nhật: 10/07/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17979 18563
CAD 18002 18277 18896
CHF 31897 32278 32923
CNY 0 3834 3927
EUR 29378 29599 30680
GBP 34415 34806 35739
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14844 15431
SGD 19796 20078 20659
THB 704 767 820
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80