Chiến lược tài chính toàn diện "nước rút" về đích, mở đường giai đoạn đến năm 2030

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau hơn 5 năm triển khai, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đạt những bước tiến rõ nét về hạ tầng, thể chế, tài chính số và đang "nước rút" hoàn thành các chỉ tiêu năm 2025. Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng Chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, tập trung thúc đẩy tài chính toàn diện kỹ thuật số.
aa
Quỹ tín dụng nhân dân "bám rễ" vùng khó, thúc đẩy tài chính toàn diện Tài chính toàn diện tại Việt Nam: Cần một hệ sinh thái số hài hòa
Thiếu chấm điểm tín dụng "soi đường", hoạt động P2P Lending loay hoay tìm lối đi

Ngày 29/10, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Diễn đàn cấp cao về "Thúc đẩy công nghệ số - mở rộng tiếp cận tài chính" tại TP. Hồ Chí Minh.

Chiến lược tài chính toàn diện
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cùng các đại biểu tham dự diễn đàn. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà khẳng định, phát triển tài chính toàn diện là một trong những ưu tiên chiến lược của Chính phủ Việt Nam, gắn với mục tiêu tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững.

Phó Thống đốc nhấn mạnh, việc triển khai Chiến lược tài chính toàn diện Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/1/2020 của Thủ tướng Chính phủ) đã tạo nền tảng quan trọng để mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức cho người dân và doanh nghiệp.

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước đang tổng kết Chiến lược tài chính toàn diện Quốc gia giai đoạn 2020 - 2025 và xây dựng Chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, trong đó tập trung thúc đẩy tài chính toàn diện số, coi công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo là đột phá quan trọng hàng đầu để xây dựng hệ sinh thái tài chính mở, an toàn, bền vững và bao trùm, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Sau hơn 5 năm thực hiện chiến lược, theo Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực về khung thể chế, chính sách ngày càng hoàn thiện; hạ tầng thanh toán và mạng lưới cung ứng dịch vụ phát triển mạnh mẽ; các sản phẩm, dịch vụ tài chính số đa dạng hơn.

Cùng với đó, khả năng tiếp cận tài chính của người dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các nhóm yếu thế được cải thiện rõ rệt. Các chỉ tiêu về tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản và thanh toán không dùng tiền mặt đều tăng nhanh, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong nền kinh tế.

Việc triển khai thành công chiến lược này xuất phát từ chủ trương nhất quán và đồng bộ của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, qua đó hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu của tài chính toàn diện.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động xây dựng và triển khai Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, Kế hoạch chuyển đổi số ngành ngân hàng; đồng thời, ban hành khung pháp lý thuận lợi cho việc triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính. ​

Nhìn lại 5 năm triển khai chiến lược, ông Chu Khánh Lân - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) khẳng định, công nghệ và dữ liệu là động lực giúp mở rộng phạm vi và độ sâu của tài chính toàn diện, hướng tới xây dựng hệ sinh thái tài chính mở, an toàn, bao trùm và bền vững.

Ông Lân cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển hạ tầng dữ liệu dùng chung, tài chính mở và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, coi đây là nền tảng cho đổi mới sáng tạo, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, đồng thời bảo đảm hệ thống ổn định tài chính và bảo vệ người tiêu dùng.

Tại diễn đàn, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia IFC tại Việt Nam, Lào và Campuchia khẳng định, tài chính số không chỉ là động lực lớn cho đổi mới sáng tạo, mà còn là yếu tố then chốt cho chuyển đổi kinh tế toàn diện. Sự kết hợp giữa công nghệ, khung pháp lý đi cùng đầu tư hiệu quả sẽ giúp Việt Nam phát triển lĩnh vực fintech năng động, nâng cao cạnh tranh, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các dự án khởi nghiệp, tạo việc làm chất lượng và đưa dịch vụ tài chính đến gần hơn với mọi người dân.

Dù vậy, còn một số thách thức khi triển khai chiến lược được lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ, như chênh lệch hạ tầng số giữa các vùng miền, mức độ hiểu biết tài chính chưa đồng đều và rủi ro an ninh mạng.

Diễn đàn cấp cao về "Thúc đẩy công nghệ số - mở rộng tiếp cận tài chính" được tổ chức nhằm tăng cường đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện gắn với chuyển đổi số, qua đó góp phần định hình tương lai của tài chính toàn diện kỹ thuật số trong khu vực./.

Tài chính toàn diện tăng tốc về đích các chỉ tiêu năm 2025

Quyết định số 149/QĐ-TTg nêu rõ một số chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2025 của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Theo đó, phấn đấu đến năm 2025, ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; tiến tới mục tiêu mỗi người trưởng thành có ít nhất 1 tài khoản ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác vào năm 2030. Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng thương mại trên 100.000 người trưởng thành.

Ít nhất 50% tổng số xã có điểm cung ứng dịch vụ tài chính (chi nhánh, phòng giao dịch của tổ chức tín dụng và đại lý ngân hàng; ngoại trừ điểm cung ứng dịch vụ tài chính của Ngân hàng Chính sách xã hội).

Ít nhất 25 - 30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng. Số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt tốc độ tăng 20 - 25% hàng năm.

Ít nhất 250.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng. Dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 25%. Doanh thu phí bảo hiểm bình quân GDP là 3,5%.

Ít nhất 70% người trưởng thành có thông tin về lịch sử tín dụng trong hệ thống thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,420 14,720
Kim TT/AVPL 14,420 14,720
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,420 14,720
Nguyên Liệu 99.99 13,050 13,250
Nguyên Liệu 99.9 13,000 13,200
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,200 147,200
Hà Nội - PNJ 144,200 147,200
Đà Nẵng - PNJ 144,200 147,200
Miền Tây - PNJ 144,200 147,200
Tây Nguyên - PNJ 144,200 147,200
Đông Nam Bộ - PNJ 144,200 147,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 14,720
Miếng SJC Nghệ An 14,420 14,720
Miếng SJC Thái Bình 14,420 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 14,722
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 14,723
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,421 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 144,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,668 99,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,475 88,975
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,543 85,043
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,371 60,871
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cập nhật: 22/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18774
CAD 18058 18333 18954
CHF 31959 32340 32980
CNY 0 3846 3940
EUR 29546 29767 30851
GBP 34019 34409 35350
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14795 15380
SGD 19816 20098 20708
THB 715 778 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80