Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đề án tái cơ cấu gần đến chặng cuối, Sacombank kỳ vọng năm 2025 sẽ là bước ngoặt quan trọng khi gỡ được “nút thắt” cuối cùng. Lợi nhuận trước thuế dự kiến tăng 15%, đạt kỷ lục 14.650 tỷ đồng, song Sacombank chưa có phương án chia cổ tức cho cổ đông sau 9 năm liên tiếp.
aa
Sacombank sẽ hoàn thành Đề án tái cơ cấu trong năm 2024 Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào? Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - Mã ck: STB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 25/4 tại TP. HCM.

"Nút thắt" cuối cùng từ xử lý lô cổ phiếu STB

Tại đại hội, Sacombank dự kiến thông qua kế hoạch kinh doanh năm tài chính 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm tài chính 2024 và kế hoạch phân phối lợi nhuận năm tài chính 2025.

Lãnh đạo Sacombank đánh giá, năm 2025 được dự báo sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng đây cũng là năm cột mốc quan trọng để Sacombank khép lại hành trình tái cơ cấu.

Theo đó, năm 2025 Sacombank đặt ra các mục tiêu trọng yếu như: tổng tài sản đạt 819.800 tỷ đồng, tăng 10%; tổng nguồn vốn huy động đạt 736.300 tỷ đồng, tăng 9%. Tổng dư nợ tín dụng đạt 614.400 tỷ đồng, tăng 14%.

Lợi nhuận tăng gấp 94 lần sau tái cơ cấu, kiểm soát nợ xấu dưới 2%

Năm 2025, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 2%. Lợi nhuận trước thuế đạt 14.650 tỷ đồng, tăng 15%. Kể từ khi thực hiện Đề án tái cơ cấu năm 2016, Sacombank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng gấp 94 lần, dù vốn điều lệ không thay đổi.

Ngân hàng sẽ tiếp tục tái cấu trúc nguồn vốn để kéo giảm chi phí vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và các tỷ lệ sinh lời; quyết liệt kéo giảm nợ xấu, tài sản tồn đọng còn lại để hoàn thành Đề án.

Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các nguồn thu phi tín dụng, đặc biệt từ các kênh số và giải pháp thanh toán hiện đại; tập trung quản trị chi phí chặt chẽ, nâng cao hiệu suất làm nền tảng để gia tăng hiệu quả kinh doanh.

Về cơ cấu cổ đông, ngân hàng Sacombank ghi nhận thêm hai nhà đầu tư mới sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, đó là KIM Vietnam Growth Equity Fund và Amersham Industries Limited, nâng tổng số cổ đông lớn tại Sacombank lên 7, gồm 6 tổ chức và 1 cá nhân.

Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức
Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức. Ảnh tư liệu.

Nhìn lại suốt hành trình tái cơ cấu, dù đối mặt với nhiều biến động sau quá trình sáp nhập và nguồn lực có hạn do không thể tăng vốn, Sacombank không chỉ phục hồi mạnh mẽ năng lực kinh doanh mà còn xử lý thành công khối lượng nợ tồn đọng, hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ tài chính.

“Đến thời điểm hiện tại, Sacombank chỉ còn nút thắt cuối cùng là chờ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phê duyệt phương án xử lý lô cổ phiếu STB theo Đề án tái cơ cấu. Bước sang năm 2025, chúng tôi tự tin sẽ hoàn thành kế hoạch kinh doanh đề ra và quyết tâm đẩy mạnh tiến trình làm việc với NHNN để chính thức công bố hoàn tất Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập. Đây là bước ngoặt quan trọng mở ra cơ hội mạnh mẽ để tăng vốn, nâng tầm vị thế và tạo ra những cơ hội phát triển mới” - lãnh đạo Sacombank kỳ vọng.

Liên quan đến việc thực hiện đề án, về công tác xử lý nợ xấu, Sacombank thu hồi, xử lý gần 10.000 tỷ nợ xấu và tài sản tồn đọng, nâng lũy kế lên 103.988 tỷ đồng, trong đó thuộc Đề án 76.695 tỷ đồng. Nhờ đó, các khoản tồn đọng thuộc Đề án giảm 80,5% về quy mô và 25,7% về tỷ trọng so với thời điểm bắt đầu triển khai, hiện chỉ còn chiếm 2,4% tổng tài sản.

Trong đó, đối với các khoản nợ thuộc Khu công nghiệp Phong Phú, Sacombank bán đấu giá thành công khoản nợ sau 18 phiên đấu giá trong năm 2023, với giá bán là 7.934 tỷ đồng, cao hơn so nghĩa vụ nợ của khách hàng. Đến nay, Sacombank thực thu hồi 1.587 tỷ đồng và dự kiến sẽ thu hồi đầy đủ trong năm 2025.

Đối với các khoản nợ đảm bảo bằng cổ phiếu STB của ông Trầm Bê và người có liên quan, Sacombank trình các phương án xử lý và đang chờ sự phê duyệt từ NHNN. Ngân hàng trích lập dự phòng 100% đối với dư nợ gốc của khoản nợ xấu trên, cũng như thoái hoàn toàn lãi dự thu từ cuối quý II/2022.

Được biết, 32,5% cổ phần Sacombank của nhóm ông Trầm Bê và gia đình nắm giữ trước đây đang được thế chấp tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để đảm bảo cho khoản nợ gốc khoảng 10.000 tỷ đồng. ​Việc xét duyệt để Sacombank xử lý lô cổ phiếu cũng như ghi nhận hoàn thành tái cơ cấu sẽ cần có thời gian.

Lợi nhuận tăng vọt dù tín dụng tăng chậm hơn toàn ngành

Theo báo cáo tài chính năm 2024, lợi nhuận trước thuế của Sacombank vượt 12.720 tỷ đồng, tăng 32,5% so với năm 2023, đạt 120% so với kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông giao. Trong đó, động lực chính từ thu nhập lãi thuần tăng 11% cùng kỳ, đạt 24,531.7 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí lãi sụt giảm sâu 25%. Trong khi đó, tổng thu nhập ngoài lãi chỉ tăng nhẹ 1,1% cùng kỳ, đạt 4,1 nghìn tỷ đồng.

Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức
Nguồn: Sacombank.

Các công ty, ngân hàng con tiếp tục hoạt động ổn định và đảm bảo hiệu quả. Trong đó, Công ty Cho thuê tài chính SBL tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trên thị trường, quy mô mở rộng với dư nợ tăng 20,9%, đồng thời quyết liệt thu hồi nợ tồn đọng nên hiệu quả kinh doanh cải thiện đáng kể, lợi nhuận đạt gần 225 tỷ đồng, tăng 22,2% so năm trước.

Trong khi đó, một số công ty con khác đóng góp lợi nhuận không đáng kể như: Công ty Kiều hối SBR lợi nhuận trước thuế đạt 9,6 tỷ đồng; Công ty Vàng bạc đá quý SBJ lợi nhuận trước thuế đạt 1,8 tỷ đồng…

Tổng dư nợ tín dụng đạt 539.315 tỷ đồng, tăng 11,7%, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, đạt 101% kế hoạch, chiếm 3,4% thị phần toàn ngành. Điều này là do mức nhu cầu tín dụng yếu từ khách hàng bán lẻ và sự cạnh tranh gay gắt trong mảng cho vay giữa các ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 2,08%, giảm 0,02% so với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu tổng thể cũng giảm 0,89%. Chất lượng tín dụng nhìn chung vẫn được cải thiện trong bối cảnh rủi ro tín dụng gia tăng, tuy nhiên còn cao hơn mức kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao.

Về trích lập dự phòng rủi ro, trong năm 2024, Sacombank trích lập 2.623 tỷ đồng dự phòng rủi ro và sử dụng 2.061 tỷ đồng dự phòng để xử lý rủi ro; trong đó, xử lý rủi ro tín dụng là 756 tỷ và xử lý trái phiếu đặc biệt của VAMC là 1.305 tỷ. Hoàn thành trích lập 100% dự phòng rủi ro cho các khoản nợ tồn đọng chưa xử lý, nâng quy mô bộ đệm dự phòng lên 25.689 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ (LLR) của Sacombank vẫn giữ ổn định so với cùng kỳ năm trước ở mức 68,5%.

Cổ đông vẫn chờ cổ tức 9 năm, đợi tái cơ cấu hoàn tất

Sau khi trích các quỹ, báo cáo tài chính luôn cho thấy sự tăng trưởng đều đặn nhưng 9 năm chưa chia cổ tức, cộng với lợi nhuận hợp nhất chưa phân phối lũy kế lên đến 25.352 tỷ đồng tính đến cuối năm 2024. Dù vậy, trong tờ trình đại hội năm nay, Sacombank vẫn giữ lại lợi nhuận năm 2024-2025 và chưa có phương án chia cổ tức cho cổ đông.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18243 18519 19096
CAD 18630 18907 19522
CHF 32873 33258 33906
CNY 0 3834 3926
EUR 30031 30304 31331
GBP 34514 34906 35847
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15106 15690
SGD 20038 20321 20848
THB 723 786 839
USD (1,2) 26089 0 0
USD (5,10,20) 26131 0 0
USD (50,100) 26159 26179 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,389
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,240 30,264 31,548
JPY 161.64 161.93 170.83
GBP 34,814 34,908 35,931
AUD 18,543 18,610 19,214
CAD 18,856 18,917 19,516
CHF 33,223 33,326 34,137
SGD 20,214 20,277 20,975
CNY - 3,811 3,936
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.23 16.93 18.33
THB 772.98 782.53 833.61
NZD 15,137 15,278 15,654
SEK - 2,761 2,845
DKK - 4,047 4,168
NOK - 2,802 2,887
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,211.55 - 6,977.15
TWD 754.53 - 908.9
SAR - 6,919.88 7,252.25
KWD - 83,792 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26389
AUD 18469 18569 19495
CAD 18818 18918 19932
CHF 33146 33176 34751
CNY 3816.3 3841.3 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30231 30261 31987
GBP 34849 34899 36659
HKD 0 3355 0
JPY 162.27 162.77 173.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15230 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20207 20337 21070
THB 0 753.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,180 26,230 26,389
USD20 26,180 26,230 26,389
USD1 23,877 26,230 26,389
AUD 18,543 18,643 19,759
EUR 30,387 30,387 31,810
CAD 18,764 18,864 20,180
SGD 20,289 20,439 21,265
JPY 162.73 164.23 168.87
GBP 34,759 35,109 35,987
XAU 16,128,000 0 16,382,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80