Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đề án tái cơ cấu gần đến chặng cuối, Sacombank kỳ vọng năm 2025 sẽ là bước ngoặt quan trọng khi gỡ được “nút thắt” cuối cùng. Lợi nhuận trước thuế dự kiến tăng 15%, đạt kỷ lục 14.650 tỷ đồng, song Sacombank chưa có phương án chia cổ tức cho cổ đông sau 9 năm liên tiếp.
aa
Sacombank sẽ hoàn thành Đề án tái cơ cấu trong năm 2024 Nhiều quỹ đầu tư ngoại thoái vốn, ngân hàng Sacombank kinh doanh thế nào? Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - Mã ck: STB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 25/4 tại TP. HCM.

"Nút thắt" cuối cùng từ xử lý lô cổ phiếu STB

Tại đại hội, Sacombank dự kiến thông qua kế hoạch kinh doanh năm tài chính 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm tài chính 2024 và kế hoạch phân phối lợi nhuận năm tài chính 2025.

Lãnh đạo Sacombank đánh giá, năm 2025 được dự báo sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng đây cũng là năm cột mốc quan trọng để Sacombank khép lại hành trình tái cơ cấu.

Theo đó, năm 2025 Sacombank đặt ra các mục tiêu trọng yếu như: tổng tài sản đạt 819.800 tỷ đồng, tăng 10%; tổng nguồn vốn huy động đạt 736.300 tỷ đồng, tăng 9%. Tổng dư nợ tín dụng đạt 614.400 tỷ đồng, tăng 14%.

Lợi nhuận tăng gấp 94 lần sau tái cơ cấu, kiểm soát nợ xấu dưới 2%

Năm 2025, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 2%. Lợi nhuận trước thuế đạt 14.650 tỷ đồng, tăng 15%. Kể từ khi thực hiện Đề án tái cơ cấu năm 2016, Sacombank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng gấp 94 lần, dù vốn điều lệ không thay đổi.

Ngân hàng sẽ tiếp tục tái cấu trúc nguồn vốn để kéo giảm chi phí vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và các tỷ lệ sinh lời; quyết liệt kéo giảm nợ xấu, tài sản tồn đọng còn lại để hoàn thành Đề án.

Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các nguồn thu phi tín dụng, đặc biệt từ các kênh số và giải pháp thanh toán hiện đại; tập trung quản trị chi phí chặt chẽ, nâng cao hiệu suất làm nền tảng để gia tăng hiệu quả kinh doanh.

Về cơ cấu cổ đông, ngân hàng Sacombank ghi nhận thêm hai nhà đầu tư mới sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, đó là KIM Vietnam Growth Equity Fund và Amersham Industries Limited, nâng tổng số cổ đông lớn tại Sacombank lên 7, gồm 6 tổ chức và 1 cá nhân.

Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức
Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức. Ảnh tư liệu.

Nhìn lại suốt hành trình tái cơ cấu, dù đối mặt với nhiều biến động sau quá trình sáp nhập và nguồn lực có hạn do không thể tăng vốn, Sacombank không chỉ phục hồi mạnh mẽ năng lực kinh doanh mà còn xử lý thành công khối lượng nợ tồn đọng, hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ tài chính.

“Đến thời điểm hiện tại, Sacombank chỉ còn nút thắt cuối cùng là chờ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phê duyệt phương án xử lý lô cổ phiếu STB theo Đề án tái cơ cấu. Bước sang năm 2025, chúng tôi tự tin sẽ hoàn thành kế hoạch kinh doanh đề ra và quyết tâm đẩy mạnh tiến trình làm việc với NHNN để chính thức công bố hoàn tất Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập. Đây là bước ngoặt quan trọng mở ra cơ hội mạnh mẽ để tăng vốn, nâng tầm vị thế và tạo ra những cơ hội phát triển mới” - lãnh đạo Sacombank kỳ vọng.

Liên quan đến việc thực hiện đề án, về công tác xử lý nợ xấu, Sacombank thu hồi, xử lý gần 10.000 tỷ nợ xấu và tài sản tồn đọng, nâng lũy kế lên 103.988 tỷ đồng, trong đó thuộc Đề án 76.695 tỷ đồng. Nhờ đó, các khoản tồn đọng thuộc Đề án giảm 80,5% về quy mô và 25,7% về tỷ trọng so với thời điểm bắt đầu triển khai, hiện chỉ còn chiếm 2,4% tổng tài sản.

Trong đó, đối với các khoản nợ thuộc Khu công nghiệp Phong Phú, Sacombank bán đấu giá thành công khoản nợ sau 18 phiên đấu giá trong năm 2023, với giá bán là 7.934 tỷ đồng, cao hơn so nghĩa vụ nợ của khách hàng. Đến nay, Sacombank thực thu hồi 1.587 tỷ đồng và dự kiến sẽ thu hồi đầy đủ trong năm 2025.

Đối với các khoản nợ đảm bảo bằng cổ phiếu STB của ông Trầm Bê và người có liên quan, Sacombank trình các phương án xử lý và đang chờ sự phê duyệt từ NHNN. Ngân hàng trích lập dự phòng 100% đối với dư nợ gốc của khoản nợ xấu trên, cũng như thoái hoàn toàn lãi dự thu từ cuối quý II/2022.

Được biết, 32,5% cổ phần Sacombank của nhóm ông Trầm Bê và gia đình nắm giữ trước đây đang được thế chấp tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để đảm bảo cho khoản nợ gốc khoảng 10.000 tỷ đồng. ​Việc xét duyệt để Sacombank xử lý lô cổ phiếu cũng như ghi nhận hoàn thành tái cơ cấu sẽ cần có thời gian.

Lợi nhuận tăng vọt dù tín dụng tăng chậm hơn toàn ngành

Theo báo cáo tài chính năm 2024, lợi nhuận trước thuế của Sacombank vượt 12.720 tỷ đồng, tăng 32,5% so với năm 2023, đạt 120% so với kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông giao. Trong đó, động lực chính từ thu nhập lãi thuần tăng 11% cùng kỳ, đạt 24,531.7 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí lãi sụt giảm sâu 25%. Trong khi đó, tổng thu nhập ngoài lãi chỉ tăng nhẹ 1,1% cùng kỳ, đạt 4,1 nghìn tỷ đồng.

Sacombank lãi lớn gần 15.000 tỷ đồng sau tái cơ cấu, cổ đông vẫn “khát” cổ tức
Nguồn: Sacombank.

Các công ty, ngân hàng con tiếp tục hoạt động ổn định và đảm bảo hiệu quả. Trong đó, Công ty Cho thuê tài chính SBL tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trên thị trường, quy mô mở rộng với dư nợ tăng 20,9%, đồng thời quyết liệt thu hồi nợ tồn đọng nên hiệu quả kinh doanh cải thiện đáng kể, lợi nhuận đạt gần 225 tỷ đồng, tăng 22,2% so năm trước.

Trong khi đó, một số công ty con khác đóng góp lợi nhuận không đáng kể như: Công ty Kiều hối SBR lợi nhuận trước thuế đạt 9,6 tỷ đồng; Công ty Vàng bạc đá quý SBJ lợi nhuận trước thuế đạt 1,8 tỷ đồng…

Tổng dư nợ tín dụng đạt 539.315 tỷ đồng, tăng 11,7%, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, đạt 101% kế hoạch, chiếm 3,4% thị phần toàn ngành. Điều này là do mức nhu cầu tín dụng yếu từ khách hàng bán lẻ và sự cạnh tranh gay gắt trong mảng cho vay giữa các ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 2,08%, giảm 0,02% so với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu tổng thể cũng giảm 0,89%. Chất lượng tín dụng nhìn chung vẫn được cải thiện trong bối cảnh rủi ro tín dụng gia tăng, tuy nhiên còn cao hơn mức kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao.

Về trích lập dự phòng rủi ro, trong năm 2024, Sacombank trích lập 2.623 tỷ đồng dự phòng rủi ro và sử dụng 2.061 tỷ đồng dự phòng để xử lý rủi ro; trong đó, xử lý rủi ro tín dụng là 756 tỷ và xử lý trái phiếu đặc biệt của VAMC là 1.305 tỷ. Hoàn thành trích lập 100% dự phòng rủi ro cho các khoản nợ tồn đọng chưa xử lý, nâng quy mô bộ đệm dự phòng lên 25.689 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ (LLR) của Sacombank vẫn giữ ổn định so với cùng kỳ năm trước ở mức 68,5%.

Cổ đông vẫn chờ cổ tức 9 năm, đợi tái cơ cấu hoàn tất

Sau khi trích các quỹ, báo cáo tài chính luôn cho thấy sự tăng trưởng đều đặn nhưng 9 năm chưa chia cổ tức, cộng với lợi nhuận hợp nhất chưa phân phối lũy kế lên đến 25.352 tỷ đồng tính đến cuối năm 2024. Dù vậy, trong tờ trình đại hội năm nay, Sacombank vẫn giữ lại lợi nhuận năm 2024-2025 và chưa có phương án chia cổ tức cho cổ đông.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Kim TT/AVPL 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 ▲50K 14,790 ▲50K
Trang sức 99.99 14,100 ▲50K 14,800 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 ▲1323K 14,992 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 ▲1323K 14,993 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 ▲7K 1,494 ▲7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 ▲7K 1,495 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 ▲7K 1,474 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 ▲693K 145,941 ▲693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲525K 110,711 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 ▲476K 100,392 ▲476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 ▲427K 90,073 ▲427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 ▲408K 86,093 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 ▲46669K 61,622 ▲55489K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cập nhật: 10/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17697 17971 18551
CAD 18001 18276 18891
CHF 31912 32293 32944
CNY 0 3834 3926
EUR 29388 29608 30683
GBP 34421 34813 35747
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14838 15423
SGD 19798 20080 20655
THB 703 767 820
USD (1,2) 25995 0 0
USD (5,10,20) 26036 0 0
USD (50,100) 26065 26079 26439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26474
AUD 17884 17984 18914
CAD 18189 18289 19303
CHF 32184 32214 33804
CNY 3814.6 3839.6 3975.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29585 29615 31340
GBP 34733 34783 36554
HKD 0 3355 0
JPY 158.96 159.46 169.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14948 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19964 20094 20820
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80