Lãi quý II lập đỉnh, ABBank tiến sát kế hoạch năm với hàng loạt chỉ số cải thiện mạnh

(TBTCO) - ABBank báo lãi trước thuế quý II/2025 đạt mức cao kỷ lục 1.256,7 tỷ đồng, nhờ hàng loạt khoản thu nhập tăng đột biến. Lũy kế 6 tháng, lợi nhuận đạt 1.672,5 tỷ đồng, tăng 187% cùng kỳ và hoàn thành 93% kế hoạch. Các chỉ số hiệu quả hoạt động, chất lượng tài sản và vốn đều được cải thiện rõ nét.
aa

Vực dậy tăng trưởng, Ngân hàng ABBank nhắm mốc 1.800 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025
“Đọc vị” hành vi khách vay, ngân hàng rộng cửa cấp tín dụng

Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank - mã Ck: ABB) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Theo báo cáo tài chính quý II, ABBank ghi nhận thu nhập lãi thuần đạt gần 933 tỷ đồng, tăng 17,5% cùng kỳ. Các khoản thu nhập ngoài lãi ghi nhận kết quả khả quan. Đơn cử, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ gấp 5 lần cùng kỳ 2024, lên 431 tỷ đồng; lãi thuần từ hoạt động khác cũng ghi nhận con số đột biến 894,5 tỷ đồng, gấp 13 lần cùng kỳ. Sau khi trừ đi chi phí và dự phòng rủi ro tín dụng, lãi trước thuế ABBank tăng 222% cùng kỳ, lên mức đỉnh lịch sử 1.256,7 tỷ đồng.

Lãi quý II lập đỉnh, ABBank tiến sát kế hoạch năm với hàng loạt chỉ số cải thiện mạnh
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Nhiều khoản mục tăng đột biến

Lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2025 của ABBank đạt 1.672,5 tỷ đồng, ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ, tăng 187% so với cùng kỳ năm 2024. Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2025 tại ABBank đến từ sự tăng trưởng đồng loạt của các hoạt động cốt lõi. Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 21% lên 1.765 tỷ đồng; lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng 214% lên 592,7 tỷ đồng; lãi từ hoạt động khác gấp hơn 10 lần cùng kỳ, lên 1.066,6 tỷ đồng.

Cùng với đó, hiệu quả hoạt động tính đến hết quý II/2025 theo đó được cải thiện đáng kể, thể hiện thông qua tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập (CIR) đạt 31,29%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 18,3%.

Cùng với đó, tính đến hết ngày 30/6/2025, quy mô hoạt động của ngân hàng mẹ ghi nhận sự tăng trưởng tích cực.

Theo đó, tổng tài sản đạt 204.851 tỷ đồng, tăng 16% so với đầu năm và vượt 2% so với kế hoạch cả năm. Huy động từ khách hàng và phát hành giấy tờ có giá đạt 149.587 tỷ đồng, tăng 36% so với đầu năm. Dư nợ tín dụng đạt 122.364 tỷ đồng, tăng hơn 11% so với đầu năm, tăng trưởng tập trung chủ yếu ở nhóm khách hàng cá nhân là phân khúc chiến lược của ngân hàng.

Chất lượng tài sản của ABBank được kiểm soát tốt với các chính sách linh hoạt, bám sát diễn biến của thị trường. Tính đến hết 30/6/2025, ABBank đã trích lập 865 tỷ đồng cho công tác dự phòng rủi ro tín dụng; nợ xấu được kiểm soát chặt chẽ ở mức 1,9%, tiếp tục duy trì dưới mức 3% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Chất lượng vốn của ABBank cũng tiếp tục được đảm bảo theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước, thể hiện khung vốn vững chắc cho công tác kinh doanh, tạo đà phát triển cho ngân hàng, với tỷ lệ an toàn vốn (CAR) luôn tuân thủ trên 8%, khả năng thanh khoản cao với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) đạt 62,82%.

Với những nỗ lực này, trong báo cáo xếp hạng mới công bố, tổ chức xếp hạng thế giới Moody’s tiếp tục đánh giá triển vọng của ABBank ở mức ổn định giữa diễn biến thị trường Việt Nam đang còn nhiều thách thức.

Ông Phạm Duy Hiếu - Tổng Giám đốc ABBank nhận định, sự tăng trưởng được cải thiện rất đáng kể trong quý II/2025 của ABBank đến từ việc ngân hàng đang phát huy tốt các yếu tố nội lực và hiệu quả từ sự cải tổ quyết liệt bộ máy hoạt động. Trong nửa cuối năm, ABBANK đặt mục tiêu tiếp tục tăng trưởng mạnh ở cả tín dụng, huy động và dịch vụ, với lợi nhuận trước thuế dự kiến vượt kế hoạch 1.800 tỷ đồng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chú trọng công tác quản trị tín dụng, kiểm soát nợ xấu chặt chẽ.

Trong quý II/2025, hoạt động mảng ngân hàng số của ABBank tiếp tục ghi nhận nhiều điểm sáng. Nền tảng Ngân hàng số thế hệ mới ABBank (thay cho AB Ditizen trước đó) chính thức được giới thiệu rộng rãi tới thị trường kèm theo nhiều tính năng sáng tạo, trong đó nổi bật là tính năng ABBY Family giúp các bậc cha mẹ đồng hành cùng con trong hành trình quản lý tài chính cá nhân. Số lượng giao dịch của khách hàng cá nhân trên kênh số tại ABBank tăng 18,6%, số lượng khách hàng giao dịch cũng tăng 5,8% so với quý I/2025.

Ghi nhận tại mảng khách hàng doanh nghiệp, nền tảng ngân hàng số ABBank Business tiếp tục đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy tính gắn kết của khách hàng với ABBank trong 6 tháng đầu năm. Theo thống kê, 80% giao dịch của khách hàng doanh nghiệp tại ABBank được thực hiện online giúp nâng cao trải nghiệm của khách hàng và tiết kiệm thời gian vận hành cho đội ngũ kinh doanh trực tiếp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30