Chất lượng tín dụng kỳ vọng sẽ cải thiện theo hướng bền vững hơn

(TBTCO) - Triển vọng nửa cuối năm, tín dụng tiếp tục được củng cố nhờ đầu tư công tăng tốc, nới room tín dụng và chính sách hỗ trợ khu vực tư nhân.
aa

Doanh nghiệp dẫn dắt dòng vốn tín dụng

Trong bức tranh toàn cảnh của hệ thống tài chính, tín dụng từ đầu năm 2025 đã tăng tốc mạnh mẽ, phản ánh nỗ lực của toàn ngành trong việc đưa dòng vốn vào nền kinh tế thực. Theo phân tích của Công ty Chứng khoán MB (MBS), tính đến ngày 8/8/2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 10,28% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức 5,84% cùng kỳ 2024.

Động lực chính vẫn đến từ khách hàng doanh nghiệp, vốn là khu vực hưởng lợi rõ nhất từ lãi suất cho vay ưu đãi. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ chỉ mới hồi phục từng bước và chủ yếu xoay quanh cho vay mua nhà, nhờ sự khởi sắc của nguồn cung căn hộ trong nửa đầu năm.

Chất lượng tín dụng kỳ vọng sẽ cải thiện theo hướng bền vững hơn

Ở nhóm ngân hàng niêm yết, dư nợ tín dụng tăng 10,1% từ đầu năm và 20,3% so với cùng kỳ, trong đó khối tư nhân đạt 11,9%, cao hơn đáng kể so với mức 7,8% của khối quốc doanh. Việc linh hoạt hạ lãi suất để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 8% đã giúp khối tư nhân đẩy tín dụng nhanh hơn, song lợi thế chi phí vốn thấp của khối quốc doanh cũng tạo áp lực cạnh tranh không nhỏ trên thị trường. Sau giai đoạn tăng tốc này, điều được quan tâm nhiều hơn chính là triển vọng của những tháng còn lại trong năm.

Nghị quyết 68 với định hướng nâng cao vai trò khu vực tư nhân cũng được kỳ vọng tạo thêm sức bật mới. Các chính sách như giảm gánh nặng thuế phí, khuyến khích tín dụng dựa trên dòng tiền thay vì tài sản bảo đảm hay thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đều nhằm tăng đóng góp của khu vực này lên 55 – 58% GDP và đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.

Theo đó, tiến độ giải ngân đầu tư công vẫn là yếu tố được chú ý hàng đầu. Tính đến hết tháng 6, giải ngân mới hoàn thành 29,6% kế hoạch cả năm, dù giá trị tuyệt đối đã tăng hơn 42% so với cùng kỳ 2024. Điều đó cho thấy dư địa tăng tốc còn rất lớn và nếu được đẩy nhanh, đầu tư công sẽ trở thành động lực then chốt để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng trên 8%.

Thêm vào đó, định hướng từng bước xóa bỏ cơ chế “room tín dụng” cũng được xem là bước đi quan trọng, cho phép các ngân hàng có nền tảng vốn và thanh khoản tốt phát huy lợi thế, đồng thời buộc những đơn vị yếu hơn phải nâng cao nội lực để cạnh tranh.

“Nhờ vậy, chất lượng tín dụng và khả năng phân bổ vốn được kỳ vọng sẽ cải thiện theo hướng bền vững hơn. Với lĩnh vực bất động sản, việc tháo gỡ thủ tục pháp lý và cải cách hành chính cũng đang giúp khơi thông nguồn cung, từ đó hỗ trợ tín dụng gắn với các dự án mới” – ông Đinh Công Luyến, Chuyên gia từ MBS cho biết.

Bức tranh lợi nhuận khởi sắc

Trong khi tín dụng đi lên nhanh chóng, huy động vốn lại tăng chậm hơn. Tính đến giữa tháng 8, huy động tăng 7,46% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức 2,24% cùng kỳ nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng.

Chất lượng tín dụng kỳ vọng sẽ cải thiện theo hướng bền vững hơn

“Cả năm, dự kiến huy động tăng khoảng 15,6%, trong khi tín dụng được dự báo sẽ cao hơn. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trung bình hiện ở mức 4,8%, giảm nhẹ so với đầu năm, và xu hướng giảm này có thể tiếp diễn đến cuối năm” – bà Phạm Thị Thanh Hường, Chuyên gia từ MBS dự báo.

Cùng với đó, diễn biến huy động ổn định cũng góp phần hỗ trợ biên lãi ròng trong quý II. NIM toàn ngành đạt 3,20%, tăng nhẹ so với quý trước nhờ tín dụng doanh nghiệp phục hồi và chi phí vốn giữ ổn định. Tuy vậy, so với cùng kỳ 2024, NIM vẫn thấp hơn do lãi suất cho vay bình quân duy trì ở mức thấp.

Theo chuyên gia từ MBS, trong nửa cuối năm, trích lập dự phòng dự kiến sẽ duy trì ở mức tương đương để kiểm soát rủi ro, nhất là khi tín dụng bán lẻ tăng tốc có thể kéo theo áp lực nợ xấu trong trung hạn.

Sự phục hồi của tín dụng bán lẻ, đặc biệt là cho vay mua nhà và tiêu dùng, được kỳ vọng sẽ đóng góp quan trọng để biên lợi nhuận không giảm thêm trong phần còn lại của năm. Đáng chú ý, sự phân hóa ngày càng rõ rệt giữa các ngân hàng - những đơn vị từng chịu sụt giảm mạnh biên lãi trong các năm trước có khả năng ổn định tốt hơn so với phần còn lại của thị trường.

Không chỉ biên lợi nhuận, chất lượng tài sản của ngành cũng cho thấy tín hiệu khả quan. Tỷ lệ nợ xấu cuối quý II đạt 2,03%, trong khi nợ nhóm 2 là 1,25%, đều giảm so với quý trước. Dù vậy, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 80,2%, mức thấp nhất kể từ dịch Covid-19, do các ngân hàng giảm tốc trích lập dự phòng. Chi phí tín dụng trong quý II cũng giảm so với quý I.

Một điểm sáng khác là thu nhập ngoài lãi cải thiện rõ nét. Trong quý I, chỉ tiêu này tăng hơn 22% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu hồi nợ xấu tăng mạnh, trong khi mảng phí gần như đi ngang. Doanh thu từ bảo hiểm vẫn là trở ngại sau hai năm sụt giảm, nhưng với lãi suất thấp và môi trường cạnh tranh gay gắt, các ngân hàng đang dần thích ứng với mô hình khai thác dịch vụ mới. Cả năm, thu nhập ngoài lãi dự kiến tăng khoảng 14,8%, và tiếp tục cải thiện lên 15,3% trong năm 2026.

Tổng thu nhập hoạt động của toàn ngành được ước tính tăng gần 9% so với cùng kỳ, trong đó thu nhập lãi thuần tăng hơn 7% và thu nhập ngoài lãi tăng gần 15%. Nhờ vậy, lợi nhuận ròng toàn ngành dự báo tăng 15% trong năm 2025. Khối tư nhân được kỳ vọng dẫn đầu, với lợi nhuận ròng tăng trên 27%, trong khi khối quốc doanh chỉ đạt khoảng 11%.

Trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng, dù tăng trưởng cho vay chững lại trong nửa đầu năm, tỷ lệ nợ xấu đã ổn định hơn so với cuối 2024. “Triển vọng phục hồi trong nửa cuối năm được củng cố bởi kỳ vọng GDP tăng 8%, thu nhập hộ gia đình cải thiện và khung pháp lý ngày càng thuận lợi” – bà Hường kỳ vọng.

Với mô hình hợp tác B2B2C, các công ty tài chính có điều kiện tiếp cận khách hàng tốt hơn, mở rộng sử dụng thẻ tín dụng và sản phẩm vay tiêu dùng. Trong trung hạn, với dự báo GDP bình quân đầu người tăng hơn 5,5% mỗi năm giai đoạn 2025–2030, tín dụng tiêu dùng được kỳ vọng tăng trung bình 20% mỗi năm, trở thành động lực bổ sung quan trọng cho toàn ngành ngân hàng./.

Thu Hương

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 ▼60K 14,260 ▼60K
Trang sức 99.99 13,670 ▼60K 14,270 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▼6K 142 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▼594K 140,594 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▼450K 106,661 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼78636K 9,672 ▼87456K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▼366K 86,779 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▼350K 82,944 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼25K 5,937 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 03/10/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30