Thúc đẩy tiếp cận tài chính, nâng sức bật cho doanh nghiệp nữ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông qua các cơ chế hỗ trợ, Chương trình Tăng tốc thúc đẩy các doanh nghiệp nữ phát triển tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương đã giúp hàng trăm doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ cải thiện rõ rệt khả năng tiếp cận tài chính, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.
aa

Nhiều chỉ tiêu vượt kỳ vọng, dư nợ hỗ trợ gấp gần 4 lần mục tiêu

Thông tin từ Lễ tổng kết các hoạt động hỗ trợ tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp nữ tại Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Tăng tốc thúc đẩy các doanh nghiệp nữ phát triển tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương (WAVES) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức tuần qua cho thấy, dự án đã hỗ trợ 798 doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ thông qua cơ chế tài trợ thanh toán lãi vay, tối đa 10.000 USD/doanh nghiệp.

Cùng với đó, 1.587 khoản vay được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, cao hơn đáng kể mục tiêu ban đầu là 500 khoản vay. Đáng chú ý, tổng giá trị dư nợ được cơ cấu lại và cho vay mới đạt 248,5 triệu USD, gấp gần 4 lần mục tiêu ban đầu (62,5 triệu USD). Bên cạnh hỗ trợ về tài chính, hàng loạt hoạt động, sáng kiến được triển khai nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp nữ làm chủ.

Thúc đẩy tiếp cận tài chính, nâng sức bật cho doanh nghiệp nữ
TH true MILK - một trong những doanh nghiệp làm rạng danh thương hiệu Việt, do bà Thái Hương thành lập. Ảnh: ĐứcThanh

Chia sẻ về tác động của dự án, lãnh đạo Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng không nung Toàn Thắng cho biết, năm 2021, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng về dòng tiền. Khi đó, Ngân hàng BIDV đã cho phép hoãn thời gian trả nợ gốc, đồng thời ADB cấp khoản hỗ trợ không hoàn lại để doanh nghiệp thanh toán lãi các khoản vay. Nhờ sự hỗ trợ kịp thời này, đến tháng 7/2022, doanh thu bình quân của công ty đã đạt và vượt mức so với cùng kỳ năm 2021, số lượng lao động tăng khoảng 20%.

Không chỉ hỗ trợ tài chính, chương trình WAVES tư vấn kinh doanh chuyên biệt, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý tài chính và gợi mở các hướng phát triển kinh doanh mới trong tương lai. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu thay thế 40 - 45% tổng sản lượng gạch đất sét nung vào năm 2030, Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng không nung Toàn Thắng mong muốn đóng góp một phần vào quá trình chuyển đổi tích cực này.

Nhắc lại khó khăn từ giai đoạn đại dịch Covid-19, ông André Oosterman - chuyên gia tư vấn quốc tế độc lập cho biết, khảo sát do Hội đồng Nữ doanh nhân Việt Nam thực hiện vào tháng 4/2020 từng dự báo, khoảng 61% doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ có nguy cơ vỡ nợ trong vòng 6 tháng do tác động của Covid-19.

Trên 50% doanh nghiệp nữ tăng hoặc duy trì doanh thu

Đánh giá tác động đối với các doanh nghiệp nữ nhận được qua dự án WAVES, chuyên gia tư vấn quốc tế độc lập André Oosterman cho biết, có 53,3% doanh nghiệp tăng hoặc duy trì doanh thu; 52,4% doanh nghiệp tạo thêm việc làm mới hoặc duy trì số việc làm ở mức trước khi nhận hỗ trợ. Đáng chú ý, khoảng 5.100 việc làm mới đã được tạo ra, trong đó gần 50% là lao động nữ, qua đó, khẳng định những thành tựu vượt xa các chỉ tiêu định lượng ban đầu của dự án.

Việc triển khai dự án giúp các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch từng bước phục hồi và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khả năng tiếp cận nguồn tài chính của nhóm doanh nghiệp này cũng được cải thiện rõ rệt.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, ông Trần Quang Tiến - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế đánh giá cao các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ - những người đã tích cực tham gia, chia sẻ nhu cầu và các bài học thực tiễn, giúp lan tỏa các tác động tích cực của dự án. Trên cơ sở đó, chương trình đã tổng kết được nhiều kết quả quan trọng, rút ra các bài học quý báu, đề xuất những định hướng tiếp theo nhằm tiếp tục thúc đẩy tài chính toàn diện và bình đẳng giới.

Nhiều doanh nghiệp tiên phong hỗ trợ doanh nghiệp nữ

Các ngân hàng BIDV, SHB, TPBank và VPBank được ghi nhận là những đơn vị tiên phong hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ tiếp cận vốn, phục hồi sản xuất và phát triển bền vững, sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại từ Quỹ Sáng kiến tài chính cho doanh nhân nữ (We-Fi) do ADB quản lý.

Đại diện BIDV, bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Giám đốc Ban Quản lý khách hàng doanh nghiệp cho biết, sau 2 năm triển khai, BIDV đã giải ngân toàn bộ hơn 1,5 triệu USD, chiếm hơn 30% tổng quy mô của toàn dự án, hỗ trợ 166 doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, gồm 49 doanh nghiệp được cơ cấu lại nợ để phục hồi hoạt động và 117 doanh nghiệp lần đầu tiếp cận vốn tín dụng tại BIDV.

"Những kết quả này không chỉ mang ý nghĩa về mặt tài chính, mà còn góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp nữ duy trì hoạt động, bảo đảm việc làm và ổn định sinh kế cho người lao động trong giai đoạn khó khăn" - đại diện BIDV nhấn mạnh.

Ông Đào Gia Hưng - Phó Giám đốc Khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ VPBank đánh giá, dự án mang tính khác biệt, độc đáo và có chiều sâu nghiên cứu, với các kết quả có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thực tế, kinh doanh ngân hàng luôn hướng tới mục tiêu mở rộng tệp khách hàng, gia tăng dư nợ, xây dựng đội ngũ bán hàng và thiết kế các chương trình thưởng nhằm kích thích thu hút thêm khách hàng.

Theo đại diện VPBank, điểm khác biệt của dự án là cách tiếp cận của ADB khi đi sâu hơn vào phân loại khách hàng, tập trung vào nhóm doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, từ đó đặt ra bài toán làm thế nào để thúc đẩy chương trình và gia tăng số lượng khách hàng nữ.

Ông Hưng lấy ví dụ, nếu theo cách làm thông thường, chi 10 đồng cho cơ chế khuyến khích có thể mang lại khoảng 100 khách hàng, thì với cách tiếp cận của ADB, cùng mức chi đó có thể thu hút 150 - 200 khách hàng, qua đó, cho thấy quy mô và hiệu quả tác động lớn hơn, cũng như giúp ngân hàng xác định nên đầu tư thêm bao nhiêu cho các cơ chế khuyến khích. Kết quả chương trình ghi nhận giải ngân 1.510 tỷ đồng cho 754 khoản vay mới.

"Dựa trên kết quả đã đạt được, VPBank sẽ tiếp tục áp dụng và mở rộng các thiết kế, chính sách hiệu quả của chương trình trong giai đoạn tới" - ông Hưng nhấn mạnh.

Ngân hàng điều chỉnh chính sách, mở rộng hỗ trợ doanh nghiệp nữ

Ông Trần Quang Tiến chia sẻ, Ngân hàng Nhà nước vừa là cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống ngân hàng, vừa là “nhà kiến tạo” khung khổ chính sách, định hướng các tổ chức tín dụng phát triển những sản phẩm, quy trình và công nghệ tài chính hướng tới mọi người dân và doanh nghiệp, trong đó, có các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.

Theo ông Tiến, doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận hỗ trợ tài chính, tín dụng khá hạn chế. Trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp tư nhân được ghi nhận là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, thời gian tới, cần ưu tiên hỗ trợ khu vực này nhiều hơn nữa thông qua các cơ chế và sáng kiến mới.

"Các chương trình hợp tác như dự án WAVES giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm cơ sở thực tiễn để lồng ghép mục tiêu tài chính toàn diện và bình đẳng giới vào việc xây dựng các chiến lược, chính sách và công tác giám sát" - lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế, Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh.

Từ các chương trình triển khai, nhiều ngân hàng thương mại đã có những điều chỉnh, sửa đổi và bổ sung chính sách theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Thông qua sự hỗ trợ của ADB, các ngân hàng không chỉ mở rộng được tệp khách hàng mới, mà còn thiết kế các sản phẩm tài chính, dịch vụ tư vấn phù hợp, đồng thời định hình những hướng đi mới trong thời gian tới.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80