Tạm “phanh gấp” Nghị định 46: Doanh nghiệp đề xuất chuyển mạnh sang hậu kiểm an toàn thực phẩm

Song Linh
(TBTCO) - Nghị quyết 09/2026/NQ-CP, Chính phủ vừa ban hành được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, giúp “giải cứu” hàng trăm nghìn tấn thực phẩm ùn ứ tại cảng. Tuy nhiên các hiệp hội cảnh báo ách tắc có thể tái diễn sau 15/4/2026 nếu không sửa căn cơ Nghị định 46 và Nghị quyết 66 theo hướng hậu kiểm, quản lý rủi ro.
aa

Bất cập cốt lõi của chính sách chưa được xử lý

Phát biểu tại hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm”, ông Đậu Anh Tuấn- Phó tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho hay, Nghị quyết 09/2026/NQ-CP ban hành ngày 4/2/2026 đã giúp doanh nghiệp kịp thời “thoát hiểm” trong bối cảnh chuỗi cung ứng đứng trước nguy cơ đứt gãy trong quá trình triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP (NĐ 46) và Nghị quyết 6.13/2026/NĐ-CP (NQ 66).

Tạm “phanh gấp” Nghị định 46: Doanh nghiệp đề xuất chuyển mạnh sang hậu kiểm an toàn thực phẩm
Ông Đậu Anh Tuấn phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Hải Anh

“Quyết định tạm dừng hiệu lực NĐ 46 và NQ 66 đã giúp doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại rất lớn về chi phí lưu kho, lưu bãi, đồng thời tránh nguy cơ thiếu nguyên liệu sản xuất ngay trong cao điểm phục vụ tết 2026"- ông Đậu Anh Tuấn nói.

Theo khảo sát sơ bộ của 4 hiệp hội ngành hàng, trước khi Nghị quyết 09 có hiệu lực, khoảng 123.400 tấn thực phẩm bao gói sẵn, nguyên liệu, bao bì, phụ gia thực phẩm nhập khẩu bị ùn ứ tại cảng và cửa khẩu. Trước đó, gần 300.000 tấn nông sản, thực phẩm tươi sống cũng lâm vào tình trạng tương tự.

Tại hội thảo đại diện các hiệp hội nhấn mạnh, Nghị quyết 09 mới chỉ là giải pháp tình thế. Mốc 15/4/2026 đang đến gần, trong khi các bất cập cốt lõi của chính sách chưa được xử lý. Cộng đồng doanh nghiệp cho rằng NĐ 46 và NQ 66 đang khiến tiền kiểm “phình to”, thủ tục chồng chéo.

Theo Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT), Nghị định 46 đang mở rộng diện kiểm tra nhà nước một cách thiếu chọn lọc. Không chỉ thành phẩm nhập khẩu, mà cả nguyên liệu, phụ gia, bao bì phục vụ sản xuất nội bộ cũng bị đưa vào diện tiền kiểm, kèm yêu cầu công bố hợp quy.

AFT dẫn trường hợp một lô hàng nhập từ Ấn Độ đã có đầy đủ chứng nhận hữu cơ và lịch sử xuất khẩu ổn định vào Việt Nam, song vẫn phải xin thêm giấy chứng nhận an toàn thực phẩm do cơ quan nhà nước nước xuất khẩu cấp, đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm tại các phòng được chỉ định trong nước. Thực tế, nhiều phòng kiểm nghiệm chưa có hướng dẫn cụ thể, còn chỉ tiêu kiểm tra theo yêu cầu Bộ Y tế phức tạp và khác biệt với chuẩn quốc tế.

Ông Huỳnh Quang Tuấn đại diện EuroCham cho biết, mức độ kiểm tra nhà nước theo Nghị định 46 tăng gấp nhiều lần: từ kiểm hồ sơ sang kiểm hồ sơ kèm lấy mẫu kiểm nghiệm, thậm chí kiểm cả nguyên liệu và bao bì; quy trình từ 2 cấp chuyển thành 3 cấp, trong khi số cơ sở kiểm nghiệm lại giảm.

“Hệ quả là thời gian chờ thông quan tăng mạnh. Với rau quả, thực phẩm tươi sống, chỉ cần chậm 9–10 ngày là coi như mất trắng cả lô hàng”, đại diện EuroCham cảnh báo.

Đáng chú ý, EuroCham cũng chỉ ra nghịch lý: phần lớn các vụ hàng giả, hàng kém chất lượng gần đây không xuất phát từ hàng nhập khẩu, nhưng chính nhóm này lại đang chịu tiền kiểm nặng nề nhất.

Không chỉ NĐ 46, NQ 66 về đăng ký bản công bố sản phẩm cũng bị phản ánh là làm phát sinh thêm thủ tục, loại bỏ phòng kiểm nghiệm quốc tế, hồ sơ phức tạp và chồng chéo, đặc biệt với sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ dưới 36 tháng tuổi phải xin tới hai giấy phép lưu hành.

Tại nhiều địa phương, việc thực thi còn thiếu thống nhất, hồ sơ đang hiệu lực bị yêu cầu làm lại, quy định về thay đổi nhãn mác và quảng cáo áp dụng khác nhau, khiến doanh nghiệp bị gián đoạn kế hoạch sản xuất, tung sản phẩm và phát sinh chi phí lớn.

Bỏ tiền kiểm đại trà, chuyển sang quản lý rủi ro

Từ thực tiễn trên, AFT, EuroCham và AmCham thống nhất kiến nghị Chính phủ gia hạn thời gian thực thi Nghị định 46 ít nhất đến 1/6/2026, đồng thời cho phép tiếp tục áp dụng cơ chế kiểm tra hiện hành trong giai đoạn chuyển tiếp.

Tạm “phanh gấp” Nghị định 46: Doanh nghiệp đề xuất chuyển mạnh sang hậu kiểm an toàn thực phẩm
Đại diện EuroCham đề xuất ý kiến gỡ vướng thực hiện NĐ 46 và NQ 66. Ảnh: Hải Anh

Các hiệp hội đề xuất sửa NĐ 46 theo hướng đơn giản hóa quy trình kiểm tra nhà nước còn một bước, miễn công bố hợp quy đối với phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, dụng cụ và bao bì nhập khẩu phục vụ sản xuất nội bộ.

Doanh nghiệp cũng kiến nghị được sử dụng các chứng nhận quốc tế như HACCP, ISO 22000, FSSC 22000… thay cho giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, nhằm tránh phát sinh rào cản và phù hợp thông lệ quốc tế.

Với NQ 66, các hiệp hội đề nghị phân loại đăng ký bản công bố sản phẩm theo mức độ rủi ro, giảm chồng chéo, đặc biệt với sản phẩm cho trẻ em; cho phép tiếp tục xử lý các hồ sơ tự công bố còn hiệu lực trong thời hạn chuyển tiếp 12 tháng; đồng thời có chỉ đạo thống nhất toàn quốc để tránh mỗi địa phương hiểu một cách.

Về dài hạn, EuroCham khuyến nghị sửa Luật An toàn thực phẩm trước, sau đó ban hành nghị định hướng dẫn mới, tiếp tục áp dụng Nghị định 15 trong thời gian chuyển tiếp và tăng cường hậu kiểm.

"Muốn bảo vệ sức khỏe cộng đồng một cách bền vững, chính sách cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo mức độ rủi ro, áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến từ ‘trang trại đến bàn ăn’, số hóa dữ liệu và xử phạt nghiêm minh các vi phạm”, đại diện các hiệp hội tại hội thảo cùng đồng thuận.
Song Linh

Đọc thêm

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17858 18132 18710
CAD 18577 18854 19471
CHF 32728 33113 33762
CNY 0 3470 3830
EUR 29944 30217 31245
GBP 34523 34915 35849
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15044 15632
SGD 20057 20340 20867
THB 722 786 839
USD (1,2) 26083 0 0
USD (5,10,20) 26124 0 0
USD (50,100) 26152 26172 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18049 18149 19074
CAD 18761 18861 19872
CHF 32977 33007 34594
CNY 3760.2 3785.2 3920.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30124 30154 31879
GBP 34825 34875 36635
HKD 0 3355 0
JPY 162.43 162.93 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20219 20349 21083
THB 0 752.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17400000 17400000 18200000
SBJ 15000000 15000000 18200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80