Vực dậy tăng trưởng, Ngân hàng ABBank nhắm mốc 1.800 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025

(TBTCO) - Năm 2025, Ngân hàng ABBank đặt mục tiêu tái lập thời kỳ tăng trưởng đỉnh cao với kế hoạch lợi nhuận trước thuế 1.800 tỷ đồng, tăng 131% so với 2024. Ngân hàng tập trung kiểm soát nợ xấu dưới 3%, tối ưu hóa chi phí, tái cơ cấu tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động.
aa
ABBANK tăng trưởng về quy mô hoạt động, lợi nhuận tăng 58% Ba ngân hàng khởi động mùa họp cổ đông 2025 với nhiều kế hoạch tham vọng Nhiều ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội

Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình (ABBank - Mã Ck: ABB) vừa công bố các tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025. Đại hội dự kiến được tổ chức vào ngày 18/4 tại toà nhà Geleximco, số 36 phố Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.

Hội đồng Quản trị dự kiến trình cổ đông thông qua một số nội dung như: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2024; kế hoạch kinh doanh năm 2025; tờ trình về trích lập các quỹ và phân phối lợi nhuận sau thuế của năm 2024; miễn nhiệm và bầu thay thế thành viên Hội đồng quản trị.

Tăng trưởng lợi nhuận kỷ lục, đưa ABBank trở lại thời kỳ đỉnh cao

Ngân hàng ABBank đặt mục tiêu trong năm 2025 đạt lợi nhuận trước thuế 1.800 tỷ đồng, tăng 131% so với năm 2024 và đưa ABBank quay về thời kỳ tăng trưởng đỉnh cao như năm 2021.

Tổng tài sản dự kiến đạt 200 nghìn tỷ đồng, tăng 13%. Dư nợ tín dụng dự kiến đạt 127.810 tỷ đồng, tăng 16%, phù hợp với cơ chế điều hành tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Ngân hàng cũng đặt kế hoạch huy động từ khách hàng và phát hành giấy tờ có giá lên 115.458 tỷ đồng, tăng 5%.

Đáng chú ý, ngân hàng cũng đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ nợ xấu dưới 3% năm 2025, từ mức 3,74% (quy mô nợ xấu nhóm 3-5 trên tổng dư nợ) vào cuối năm 2024.

Theo đó, ABBank sẽ tăng cường giám sát chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng một cách chặt chẽ, theo dõi chi tiết từng phân khúc khách hàng và từng đơn vị kinh doanh với tần suất hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng. Điều này nhằm đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, đảm bảo kiểm soát nợ xấu và tối ưu hóa chi phí dự phòng.

Đồng thời, ngân hàng sẽ triển khai hệ thống cảnh báo sớm thông qua việc theo dõi hiện trạng, xu hướng rủi ro của danh mục tín dụng, xây dựng mô hình dự báo khả năng chuyển nợ xấu và phân tích đa chiều rủi ro danh mục theo từng tháng.

Về việc trích lập các quỹ và phân phối lợi nhuận sau thuế của năm 2024, theo tờ trình của Hội đồng quản trị, lợi nhuận sau thuế 2024 của ABBank là 627,2 tỷ đồng; sau khi trích quỹ, lợi nhuận còn lại của năm 2024 là 470 tỷ đồng. Tổng lợi nhuận còn lại chưa phân phối hiện là 2.311 tỷ đồng.

Vực dậy tăng trưởng, Ngân hàng ABBank nhắm mốc 1.800 tỷ lợi nhuận năm 2025
Ngân hàng ABBank hướng tới lợi nhuận năm 2025 đạt 1.800 tỷ đồng. Ảnh: T.L

Hội đồng quản trị đề nghị chưa phân phối số lợi nhuận sau thuế còn lại của năm 2024 sau khi trích lập các quỹ nhằm bổ sung nguồn vốn thực hiện kế hoạch chiến lược, tạo tích luỹ nội tại để tăng vốn điều lệ trong tương lai.

Trước đó, năm 2024, tổng tài sản của ABBank vượt kế hoạch đề ra 4% và tăng 9,04% so với năm 2023; trong khi đó, tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 110.099 tỷ đồng, tăng 7,5% và huy động 109.960 tỷ đồng, giảm 4,9%, tiệm cận mục tiêu. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế đạt 779 tỷ đồng, dù vẫn ghi nhận mức tăng trưởng 51,7% so với năm trước, song chỉ đạt gần 78% kế hoạch.

Theo lãnh đạo ABBank, kết quả lợi nhuận của ngân hàng năm 2024 chưa đạt kế hoạch đề ra có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, phải kể đến là nợ xấu phát sinh tăng đẩy chi phí trích lập dự phòng lên cao là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sụt giảm lợi nhuận; hiệu quả hoạt động của bộ máy còn hạn chế; năng lực xây dựng, tổ chức thực thi các giải pháp kinh doanh và kiểm soát rủi ro còn nhiều bất cập, hạn chế…

Về kết quả kinh doanh của công ty con, Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP An Bình (ABBA): đạt mức lợi nhuận trước thuế 36,32 tỷ đồng, đạt 92,4% so với kế hoạch 2024. Công ty TNHH MTV Dịch vụ Bảo vệ ABBA (ABBAS) - Công ty thuộc sở hữu gián tiếp của ABBank thông qua ABBA đạt mức lợi nhuận trước thuế 2,84 tỷ đồng, đạt 100,7% so với kế hoạch 2024.

Về cơ cấu cổ đông, Malayan Banking Berhad (Maybank) là cổ đông nước ngoài sở hữu 16,394% vốn cổ phần, chiếm tỷ trọng lớn nhất tại ABBank. Đối với các cổ đông cá nhân, bà Vũ Thị Hải Yến nắm giữ nhiều cổ phần ABBank nhất, hơn 43,8 triệu cổ phần, tương đương tỷ lệ sở hữu 4,23%; Vũ Văn Hậu 1,96%...

Cũng tại đại hội, ngân hàng ABBank sẽ thông qua việc miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị đối với ông John Chong Eng Chuan do Malayan Banking Berhad (Maybank) có văn bản gửi ABBank; đồng thời, miễn nhiệm thành viên độc lập Hội đồng quản trị đối với ông Trần Bá Vinh. Đại hội cũng tiến hành bầu ông Syed Ahmad Taufik Albar làm thành viên Hội đồng quản trị và ông Trịnh Thanh Hải làm thành viên độc lập Hội đồng quản trị./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 30 USD/ounce, xuống mức 4.604 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cùng đi xuống, có nơi giảm tới 1,3 triệu đồng/lượng.
Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

(TBTCO) - Khối ngoại đang sở hữu 20,54% vốn Techcombank, trong khi giới hạn tối đa là 22,5386%, khiến room ngoại chỉ còn khoảng 2 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hai “ông lớn” ngân hàng Pháp và Hàn Quốc được cho là đang đàm phán mua ít nhất 15% vốn Techcombank trị giá khoảng 2 tỷ USD, phương án nhận chuyển nhượng cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu được đặt ra.
Nhiều học sinh, sinh viên được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh hàng tỷ đồng

Nhiều học sinh, sinh viên được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh hàng tỷ đồng

(TBTCO) - Tham gia bảo hiểm y tế, nhiều học sinh, sinh viên không may mắc bệnh đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh lớn, có em được chi trả lên tới hơn 1,3 tỷ đồng.
BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

(TBTCO) - Bảo hiểm BIDV (BIC) dự kiến chi khoảng 242,48 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt, tỷ lệ 12%, tương đương 1.200 đồng/cổ phần, ngày đăng ký cuối cùng 8/10/2026.
Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

(TBTCO) - VIS Rating cảnh báo rủi ro tài sản ngân hàng đang lan rộng, khi tỷ lệ nợ quá hạn tăng từ 3,3% lên 3,8% trong nửa đầu năm 2026. Trong bối cảnh lãi suất neo cao, khả năng trả nợ suy giảm, bộ đệm vốn ở mức khiêm tốn; trong khi đó, rủi ro huy động vốn và thanh khoản tiếp tục hiện hữu khi tín dụng trung, dài hạn tăng mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
Hà Nội - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
Miền Tây - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,400 ▼800K 149,900 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▼30K 15,000 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▼30K 15,000 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▼30K 15,000 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,700 ▼50K 15,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,700 ▼50K 15,100 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,700 ▼50K 15,100 ▼50K
NL 99.99 14,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,410 ▼50K 15,010 ▼50K
Trang sức 99.99 14,420 ▼50K 15,020 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1326K 15,002 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1326K 15,003 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▼3K 1,495 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▼3K 1,496 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 144 ▼1299K 1,485 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 14,003 ▼126324K 14,703 ▼132624K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,736 ▼225K 111,536 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,134 ▼82410K 10,114 ▼91230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,944 ▼183K 90,744 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,934 ▼175K 86,734 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,281 ▼125K 62,081 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Cập nhật: 27/08/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18197 18472 19049
CAD 18257 18533 19149
CHF 31718 32099 32739
CNY 0 3838 3934
EUR 29745 29967 31043
GBP 34611 35003 35936
HKD 0 3196 3398
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15186 15774
SGD 19975 20257 20824
THB 710 773 826
USD (1,2) 25818 0 0
USD (5,10,20) 25858 0 0
USD (50,100) 25886 25900 26266
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,910 25,910 26,290
USD(1-2-5) 24,874 - -
USD(10-20) 24,874 - -
EUR 29,818 29,842 31,254
JPY 159.28 159.57 169.22
GBP 34,822 34,916 36,122
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,447 18,506 19,188
CHF 31,995 32,094 33,050
SGD 20,109 20,172 20,962
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,262 3,272 3,409
KRW 17.43 18.18 19.78
THB 758.44 767.81 821.82
NZD 15,188 15,329 15,786
SEK - 2,692 2,787
DKK - 3,999 4,141
NOK - 2,744 2,841
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,055.08 - 6,834.18
TWD 742.06 - 898.99
SAR - 6,832.36 7,196.57
KWD - 82,770 88,069
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,880 25,910 26,290
EUR 29,860 29,980 31,177
GBP 34,845 34,985 36,021
HKD 3,261 3,274 3,391
CHF 31,862 31,990 32,923
JPY 159.95 160.59 168.57
AUD 18,397 18,471 19,068
SGD 20,183 20,264 20,861
THB 775 778 815
CAD 18,468 18,542 19,134
NZD 15,279 15,827
KRW 18.11 20.10
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26260
AUD 18356 18456 19387
CAD 18429 18529 19543
CHF 31955 31985 33563
CNY 3820.1 3845.1 3980.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29912 29942 31664
GBP 34902 34952 36710
HKD 0 3330 0
JPY 160.02 160.52 171.06
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15283 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20121 20251 20972
THB 0 737.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,925 25,925 26,320
USD20 25,875 25,925 26,841
USD1 25,825 25,925 26,891
AUD 18,447 18,547 19,660
EUR 29,769 29,869 31,539
CAD 18,403 18,503 19,818
SGD 20,231 20,381 21,645
JPY 160.89 162.39 168
GBP 34,863 35,013 36,300
XAU 14,728,000 0 15,032,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 775 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/08/2026 18:30
Ngân hàng