Nhiều ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trước thềm Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025, nhiều ngân hàng chứng kiến những biến động đáng chú ý về nhân sự, không ít lãnh đạo cấp cao bất ngờ rời ghế cùng làn sóng cắt giảm nhân sự lan rộng do các ngân hàng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.
aa
Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng 2025, dự báo mùa đại hội cổ đông sôi động Ba ngân hàng khởi động mùa họp cổ đông 2025 với nhiều kế hoạch tham vọng

Những thay đổi này đặt ra nhiều câu hỏi về chiến lược quản lý nhân sự và định hướng hoạt động của các ngân hàng những năm tới đây, đảm bảo hoạt động minh bạch hóa và tăng cường quản trị rủi ro, kiểm soát các hoạt động ngân hàng liên quan đến “sân sau” và hệ sinh thái theo chỉ đạo của Chính phủ.

Biến động nhân sự cấp cao

Ngay trước thềm Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025, dự kiến diễn ra vào ngày 24/4 tới đây, Ngân hàng TPBank thông báo Hội đồng Quản trị chấp thuận đơn từ nhiệm của ông Đỗ Anh Tú - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ 2023 - 2028 theo nguyện vọng cá nhân. Việc lãnh đạo cấp cao ngân hàng từ nhiệm khi chưa đầy 1 tháng nữa là đến đại hội đã thu hút sự quan tâm của giới tài chính.

Trước đó, vào đầu tháng 1/2025, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông (OCB) cũng ghi nhận sự thay đổi trong đội ngũ lãnh đạo khi ông Trương Đình Long - Phó Tổng Giám đốc phụ trách khối vận hành, xin thôi nhiệm theo nguyện vọng cá nhân.

Trái với TPBank và OCB chứng kiến sự rời đi của các lãnh đạo cấp cao, tại Ngân hàng Vietcombank, ông Lê Quang Vinh - Phó Tổng Giám đốc phụ trách Ban điều hành làm thành viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Vietcombank từ ngày 7/3, chính thức kiện toàn bộ máy điều hành sau 8 tháng chờ đợi.

Trong khi đó, Ngân hàng LPBank cũng đưa ra quyết định quan trọng khi bổ nhiệm ông Vũ Quốc Khánh giữ chức vụ Tổng Giám đốc kể từ ngày 25/2. Tính đến thời điểm hiện tại, LPBank đã kiện toàn bộ máy Ban Điều hành 11 người, bao gồm tổng giám đốc, 5 phó tổng giám đốc và 5 thành viên Ban Điều hành.

Ngành ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội
Nhiều ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội. Ảnh minh hoạ.
Dự báo làn sóng biến động lãnh đạo cấp cao tại các ngân hàng dự kiến sẽ còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ khi nhiều nhà băng như: Eximbank, BVBank, Ngân hàng Quốc Dân (NCB)… chuẩn bị bầu lại Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2025-2030 trong kỳ đại hội năm nay.

Ngân hàng ABBank cũng có diễn biến tích cực hơn khi ông Vũ Văn Tiền - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị quyết định rút lại đơn từ nhiệm sau khi cân nhắc và sắp xếp lại công việc. Trước đó, vào tháng 1/2025, ông Vũ Văn Tiền đệ đơn xin rời khỏi vị trí này. Cùng thời điểm này, ABBank cũng bổ nhiệm ông Phạm Duy Hiếu vào vị trí Tổng Giám đốc từ ngày 1/1/2025.

Theo đó, Ngân hàng Quốc Dân (NCB) sẽ tiến hành bầu 7 thành viên Hội đồng Quản trị (bao gồm 2 thành viên độc lập) và 5 thành viên Ban Kiểm soát cho nhiệm kỳ mới, nhằm kiện toàn bộ máy quản trị. BVBank dự kiến bầu Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Eximbank cũng sẽ là tâm điểm chú ý khi tiến hành bầu lại Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát cho nhiệm kỳ mới. Trước đó, ngân hàng này đã miễn nhiệm 2 thành viên Hội đồng Quản trị, khiến số lượng thành viên Hội đồng Quản trị hiện tại giảm xuống còn 5 người; đồng thời, bầu bổ sung 3 thành viên Ban kiểm soát, nâng tổng số thành viên lên là 5 thành viên.

Số hóa "thay máu" lực lượng lao động

Không chỉ tái cấu trúc cấp lãnh đạo cao cấp, các ngân hàng còn đang phải đối mặt với làn sóng cắt giảm nhân sự trên diện rộng. Có ngân hàng ngay đầu năm cho thôi việc hơn 400 nhân sự, chủ yếu vì không phù hợp bằng cấp, kể cả nhân viên lâu năm và chuyên môn giỏi, có nhà băng đặt ra chỉ tiêu đến giữa năm 2025 phải cắt giảm một số lượng nhân sự nhất định.

Áp lực từ việc đáp ứng các yêu cầu mới về quản trị rủi ro, tối ưu hóa chi phí và số hóa đã buộc nhiều ngân hàng phải thu hẹp quy mô nhân sự. Trong một sự kiện mới đây, lãnh đạo Eximbank cho biết, trong khoảng 4-5 tháng triển khai, việc tích hợp công nghệ robot tự động hóa và AI vào quy trình vận hành đã giúp giảm đáng kể nhân sự trên toàn hệ thống, mang lại hiệu suất cao hơn nhưng cũng tạo ra những thách thức về mặt nhân lực.

“Cán bộ nhân viên có thể hơi buồn vì sau 5 tháng triển khai, chúng tôi giảm một lượng nhân sự trên toàn hệ thống, đó là một con số khổng lồ. Nếu không có AI thì chúng ta phải có lượng nhân sự rất lớn” - lãnh đạo Eximbank chia sẻ.

Ngành ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội
Nguồn: Chứng khoán Yuanta.

Báo cáo từ Chứng khoán Yuanta cập nhật về ngành ngân hàng cho thấy, nhiều ngân hàng đã cắt giảm nhân sự trong năm 2024 nhằm tái cấu trúc và quản lý chi phí, xu hướng này có thể sẽ tiếp tục trong năm 2025.

Theo đó, các ngân hàng chứng kiến sự biến động nhân sự đáng kể trong vòng 1 năm như BIDV: giảm 999 nhân sự còn 28.998, Sacombank: giảm 426 nhân sự còn 18.088, VIB giảm 517 nhân sự còn 11.736, ACB: giảm 365 nhân sự, còn 13.290 vào cuối 2024.

VPBank, SHB, Vietinbank có tỷ lệ CIR (tỷ lệ chi phí trên thu nhập) thấp nhất toàn ngành, phản ánh hiệu quả quản lý chi phí tốt. Cùng với đó, Techcombank dẫn đầu toàn ngành về tỷ lệ doanh thu trên mỗi nhân viên với 4 tỷ đồng/người, phản ánh năng suất cao và hiệu quả của việc ứng dụng số hóa. SHB xếp thứ hai với 3,5 tỷ đồng/người trong khi Vietinbank xếp thứ ba với 3,3 tỷ đồng/người./.

Làn sóng cắt giảm nhân sự chưa dừng lại

"Chúng tôi dự kiến xu hướng này sẽ tiếp tục trong 2025, do các ngân hàng đang đẩy mạnh chuyển đổi số và tái cấu trúc hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi phí. Hiện nay, hầu hết các giao dịch ngân hàng đều được thực hiện online. Ví dụ, tỷ lệ giao dịch online của ACB và Techcombank là 92%, của HDBank là 97%" - Chứng khoán Yuanta phân tích./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80