Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có 8 ngân hàng cắt giảm nhân sự, tổng cộng 2.503 người. Bên cạnh tinh giảm nhân sự, nhiều ngân hàng cũng giảm quỹ lương và giảm tiền lương, phụ cấp cho nhân viên. Tuy nhiên, có nhiều nhà băng đi ngược lại xu hướng này.
aa

Thống kê của TBTCVN từ báo cáo tài chính riêng lẻ năm 2024 được 27 ngân hàng niêm yết công bố cho thấy, có 8 nhà băng ghi nhận mức sụt giảm về số lượng lao động trong năm.

Làn sóng cắt giảm nhân sự tại nhiều ngân hàng

Xét về quy mô, đứng đầu về số lượng nhân sự là BIDV với 26.069 người vào cuối năm 2024. Các ngân hàng quốc doanh khác như Vietcombank và VietinBank cũng trong top các nhà băng dẫn đầu về số lượng nhân viên, lần lượt có 23.538 người và 22.492 người. Cùng với Agribank, toàn ngành ngân hàng có 4 đơn vị có đội ngũ nhân sự hùng hậu, trên 20.000 lao động.

BIDV cũng là ngân hàng dẫn đầu về mức cắt giảm nhân sự năm qua, với số lượng 1.107 người, cao nhất trong nhiều năm. Bên cạnh BIDV, hàng loạt ngân hàng khác như: Sacombank, ACB và VIB thu hẹp quy mô nhân sự đáng kể. Theo đó, Sacombank giảm 354 người, ACB giảm 377 người và VIB có 476 nhân sự rời đi. Riêng Sacombank thực hiện ba lần cắt giảm lớn trong vòng 5 năm qua, với tổng cộng 1.240 nhân sự.

LPBank gần đây cũng mạnh tay tinh gọn bộ máy khi hợp nhất 17 khối xuống còn 8 khối nghiệp vụ và chính thức triển khai vận hành theo mô hình mới từ cuối năm 2024. Trước đó, ngân hàng này từng cắt giảm 1.500 người trong năm 2023, khác với xu hướng tăng nhiều năm trước.

Các ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng trong xu hướng giảm nhân sự như: ABBank giảm 51 nhân sự; KienLong Bank cắt giảm 28 người; Nam A Bank cũng thu hẹp quy mô nhân sự, giảm 51 người.

Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng

Về quy mô nhân sự, tính đến cuối năm 2024, các ngân hàng quốc doanh đều có trên 20.000 lao động, 8 nhà băng có quy mô nhân sự dao động từ 10.000 - 20.000. BIDV tiếp tục dẫn đầu với 26.069 người, trong khi SaigonBank có nhân sự ít nhất, chỉ 1.490 người.

Những thống kê này chưa phản ánh đầy đủ làn sóng cắt giảm nhân sự toàn ngành ngân hàng do chưa xét đến các ngân hàng mới được chuyển giao bắt buộc như: GPBank, OceanBank (nay là MBV), DongA Bank và CBBank (nay là VCBNeo), hay ngân hàng đang trong diện kiểm soát đặc biệt như SCB do không có số liệu từ báo cáo tài chính. Khi phải tái cơ cấu mạnh mẽ, đây có lẽ là những ngân hàng thu hẹp quy mô nhân sự lớn nhất.

Với việc đóng cửa thêm một phòng giao dịch tại quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, SCB đã đóng tất cả 6 phòng giao dịch kể từ đầu năm và 145 phòng kể từ tháng 6/2023 khi bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt. Cùng với việc giảm mạng lưới phòng giao dịch, việc thu hẹp quy mô nhân sự là điều khó thể tránh khỏi.

Nhiều ý kiến cho rằng, làn sóng áp dụng công nghệ, fintech khiến nhiều nơi tinh giản, giảm hàng loạt nhân sự khối hành chính, hậu cần lẫn tư vấn nhằm tiết giảm chi phí.

Bên cạnh nỗi lo mất việc, nhiều nhân viên lo ngại những ưu đãi bị chấm dứt sau khi nghỉ việc sẽ tạo sức ép đè nặng lên cuộc sống. Đơn cử là lãi suất vay hết ưu đãi và áp dụng như khách hàng thông thường, hay phải gấp rút tất toán các khoản nợ, thẻ tín dụng…

Ở chiều ngược lại, nhiều ngân hàng mạnh tay tuyển dụng thêm. Đơn cử như: MB có thêm 1.674 người, tương ứng tăng 16% số nhân sự trong năm 2024. VPBank tăng 993 người, HDBank tăng 965 người, Vietcombank tăng 796 nhân sự…

Nhiều bất ngờ về biến động thu nhập

Vừa cắt giảm lượng nhân sự, nhiều ngân hàng cũng giảm quỹ lương và giảm tiền lương, cũng như phụ cấp cho nhân viên. Cụ thể, năm 2024, VIB giảm gần 500 nhân sự, thu nhập bình quân mỗi tháng của nhân viên ngân hàng giảm nhẹ. TPBank cũng giảm thu nhập bình quân của nhân viên hơn 2,5 triệu đồng, còn trên 34 triệu đồng/tháng, giảm hai bậc so với năm trước nhưng vẫn lọt top 10 các ngân hàng chịu chi cho nhân viên.

Một số ngân hàng quy mô nhỏ cũng vừa cắt giảm nhân viên và giảm thu nhập năm qua như: ABBank và Kienlong Bank.

Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng
Nhìn lại biến động nhân sự cùng thu nhập bình quân nhân viên ngân hàng. Ảnh tư liệu.

Ngược lại, nhiều nhân hàng vẫn mạnh tay điều chỉnh lương cho nhân viên. Tại HDBank, ngân hàng này công bố khoản chi lương và phụ cấp cho nhân viên trong năm 2024 là hơn 4.900 tỷ đồng, tính trung bình tiền lương và phụ cấp bình quân mỗi nhân viên là 38,65 triệu đồng/tháng, tăng gần 10 triệu đồng so với năm trước.

NCB gây nhiều bất ngờ khi góp mặt trong nhóm các ngân hàng trả thu nhập nhân viên trên 30 triệu đồng/tháng, với mức tăng mạnh trên 7 triệu đồng lên gần 31 triệu đồng/tháng. Năm 2024, ngân hàng này lỗ kỷ lục hơn 5.100 tỷ đồng, lỗ nặng gấp 7,7 lần cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần sụt giảm mạnh không đủ bù đắp chi phí và chi phí hoạt đồng gấp gần 3 lần cùng kỳ.

Ngân hàng Techcombank dẫn đầu hệ thống, với mức thu nhập bình quân mỗi nhân viên là 48 triệu đồng/tháng, tăng 3 triệu đồng song mức tăng thấp hơn nhiều ngân hàng khác.

Cắt giảm hơn 2.500 nhân viên ngân hàng trong năm 2024

Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có 8 ngân hàng cắt giảm nhân sự, tổng cộng 2.503 người. Những ngày đầu tiên làm việc sau Tết, thông tin từ nhiều ngân hàng cho thấy không ít nơi sa thải hàng loạt nhân viên do không có bằng đại học hoặc có bằng đại học nhưng trái ngành, dù nhiều người nhiều năm gắn bó. Thậm chí, tại nhiều ngân hàng, nhân sự nằm trong danh sách bị cắt giảm do cơ cấu vẫn phải làm việc tới cuối tháng 1/2025 nhưng không được nhận thưởng Tết.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19420
CAD 18776 19054 19668
CHF 33175 33561 34211
CNY 0 3827 3919
EUR 30329 30603 31631
GBP 35021 35415 36349
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15416 16004
SGD 20238 20522 21050
THB 733 797 850
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26214 26214 26368
AUD 18738 18838 19766
CAD 18956 19056 20071
CHF 33425 33455 35038
CNY 3807.2 3832.2 3967.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30520 30550 32275
GBP 35324 35374 37131
HKD 0 3355 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15513 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20397 20527 21255
THB 0 762.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80