Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Hà My
Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
aa

Mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người tham gia bảo hiểm y tế

Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, chính sách BHYT tiếp tục được hoàn thiện theo hướng lấy người bệnh làm trung tâm, mở rộng quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người tham gia trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh.

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026
Người có thẻ BHYT tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ BHYT thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán. Ảnh: LV

Theo các quy định mới của luật, nhiều nội dung liên quan đến phạm vi hưởng, điều kiện khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí BHYT được sửa đổi theo hướng thông thoáng, thuận lợi hơn.

Đặc biệt, đối với một số trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh hiếm hoặc bệnh cần điều trị chuyên sâu, người bệnh sẽ có thêm điều kiện tiếp cận các cơ sở khám, chữa bệnh phù hợp mà vẫn được bảo đảm đầy đủ quyền lợi BHYT theo quy định. Việc hoàn thiện các quy định về chuyển cơ sở khám, chữa bệnh cũng góp phần giảm bớt thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người bệnh trong quá trình điều trị.

Một điểm đáng chú ý là theo Thông tư số 01/2026/TT-BYT của Bộ Y tế, từ ngày 1/7/2026, người mắc 62 bệnh, nhóm bệnh khi được chẩn đoán xác định tại cơ sở khám, chữa bệnh đủ điều kiện sẽ được đến thẳng cơ sở khám, chữa bệnh chuyên sâu để điều trị mà không cần giấy chuyển cơ sở khám, chữa bệnh, nhưng vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi BHYT theo mức hưởng quy định.

Danh mục này bao gồm nhiều bệnh hiểm nghèo, bệnh hiếm và bệnh cần điều trị chuyên sâu như một số bệnh ung thư, bệnh về máu, tim mạch, thần kinh, rối loạn chuyển hóa, ghép tạng... Việc mở rộng danh mục góp phần giảm đáng kể thời gian chuyển tuyến, tạo điều kiện để người bệnh được tiếp cận điều trị kịp thời tại các cơ sở y tế chuyên sâu.

Quy định mới được kỳ vọng sẽ giúp người bệnh, đặc biệt là những trường hợp mắc bệnh nặng, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí đi lại và có cơ hội tiếp cận điều trị sớm, hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, từ ngày 1/7/2026, người có thẻ BHYT tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ BHYT thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.

Song song với việc hoàn thiện chính sách, ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, kết nối dữ liệu với ngành Y tế, tạo điều kiện để người dân sử dụng căn cước công dân gắn chip, ứng dụng VssID hoặc VNeID thay thế thẻ BHYT giấy khi đi khám, chữa bệnh. Việc đồng bộ dữ liệu giữa các cơ quan không chỉ giúp đơn giản hóa thủ tục, mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, giảm thời gian chờ đợi của người bệnh.

Điều chỉnh mức hưởng, mức đóng bảo hiểm y tế theo mức lương cơ sở mới

Theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2,53 triệu đồng/tháng. Việc điều chỉnh này đồng thời làm thay đổi nhiều chế độ, chính sách BHYT được xác định trên cơ sở mức lương cơ sở theo quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo quy định của Luật BHYT, người tham gia BHYT tiếp tục được Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám, chữa bệnh trong trường hợp tổng chi phí của một lần khám, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở.

Với mức lương cơ sở mới, ngưỡng chi phí này được nâng lên 379.500 đồng/lần khám, chữa bệnh, góp phần giảm tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh, nhất là đối với các trường hợp khám, điều trị thông thường. Quy định này tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi hơn, đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính khi khám, chữa bệnh.

Bên cạnh đó, việc điều chỉnh mức lương cơ sở cũng làm thay đổi mức đóng BHYT của một số nhóm đối tượng có mức đóng được tính theo lương cơ sở theo quy định của Nghị định số 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung), như học sinh, sinh viên và các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình.

Tuy nhiên, Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì chính sách hỗ trợ mức đóng đối với nhiều nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ, qua đó góp phần bảo đảm an sinh xã hội và hạn chế tác động đến chi phí tham gia BHYT của người dân.

Theo quy định hiện hành, mức đóng BHYT hộ gia đình của người thứ nhất bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Khi lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, mức đóng BHYT hộ gia đình cũng được điều chỉnh tương ứng.

Cụ thể, từ ngày 1/7/2026, mức đóng BHYT hộ gia đình là 113.850 đồng/tháng, 1.366.200 đồng/năm. Mức đóng BHYT với người thứ 2 trong hộ gia đình là 79.695 đồng/tháng, 956.340 đồng/năm; với người thứ 3 là 68.310 đồng/tháng, 819.720 đồng/năm; người thứ tư là 56.925 đồng/tháng, 683.100 đồng/năm. Từ người thứ năm trở đi, mức đóng BHYT sẽ là 45.540 đồng/tháng, đóng theo năm là 546.480 đồng/năm.

Đối với học sinh, sinh viên, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng BHYT. Trường hợp áp dụng mức hỗ trợ tối thiểu này, từ ngày 1/7/2026, học sinh, sinh viên tự đóng tối đa 56.925 đồng/tháng, tương ứng 683.100 đồng/năm; trường hợp địa phương có chính sách hỗ trợ thêm thì số tiền thực tế học sinh, sinh viên phải đóng có thể thấp hơn.

Hà My

Đọc thêm

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

(TBTCO) - ACB vừa công bố thành lập ACB Insurance (ACBI) với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ; trong đó, ACBA nắm 91%, ACBS sở hữu 9%. ACBI đặt mục tiêu thị phần trên 1,5% sau 5 năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 2.300 tỷ đồng vào năm 2030, qua đó, mở rộng hệ sinh thái và thúc đẩy nguồn thu ngoài lãi cho ngân hàng mẹ.
Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

(TBTCO) - Nhóm bảo hiểm niêm yết ghi nhận kết quả bán niên tích cực, với phí bảo hiểm gốc tăng hai con số, chiếm 72,5% toàn thị trường. Các doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh hợp tác, đa dạng mạng lưới phân phối để thúc đẩy doanh thu, song lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét.
Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

(TBTCO) - Từ chỗ chỉ huy động vốn, cho vay và thanh toán, các ngân hàng ngày nay đang mở rộng sang chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài sản… để khai thác sâu hơn giá trị khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Tại Việt Nam, VPBank là một trong những ngân hàng theo đuổi hướng đi này và đang từng bước gặt hái những kết quả rõ nét.
Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Từ ngày 28/9/2026, người dân có thể tạo lập tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID và tích hợp một tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động để tiếp nhận lương hưu, tiền hỗ trợ và các khoản chi trả an sinh xã hội.
Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Từ ngày 1/7/2026, khi văn bản chấp thuận nghiệm thu PCCC của cơ quan công an không còn là điều kiện bắt buộc, các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải tự xác minh mức độ an toàn cháy nổ của khách hàng trước khi cấp đơn — một phép thử năng lực khảo sát và thẩm định rủi ro thực sự của thị trường.
LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Năm 2025, LPBank đóng góp 3.298 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng hơn 3 lần so với năm 2021, đưa ngân hàng vào Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả này ghi dấu hành trình mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước gia tăng năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲600K 147,900 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,060 14,660
Trang sức 99.99 14,070 14,670
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 1,466
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 22/08/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18166 18441 19024
CAD 18475 18752 19375
CHF 32038 32420 33080
CNY 0 3840 3950
EUR 29934 30157 31244
GBP 34847 35240 36185
HKD 0 3201 3404
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15304 15892
SGD 20048 20331 20905
THB 714 778 831
USD (1,2) 25858 0 0
USD (5,10,20) 25898 0 0
USD (50,100) 25926 25940 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,932 29,956 31,376
JPY 160.01 160.3 169.97
GBP 34,982 35,077 36,289
AUD 18,333 18,399 19,104
CAD 18,618 18,678 19,367
CHF 32,223 32,323 33,286
SGD 20,136 20,199 20,989
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,260 3,270 3,407
KRW 17.39 18.14 19.74
THB 761.4 770.8 824.78
NZD 15,253 15,395 15,854
SEK - 2,710 2,806
DKK - 4,015 4,156
NOK - 2,755 2,853
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,036.26 - 6,814.65
TWD 740.57 - 897.18
SAR - 6,829.54 7,193.64
KWD - 82,765 88,064
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,890 25,920 26,300
EUR 29,942 30,062 31,260
GBP 34,982 35,122 36,160
HKD 3,261 3,274 3,391
CHF 32,068 32,197 33,138
JPY 160.07 160.71 168.65
AUD 18,249 18,322 18,919
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 774 777 814
CAD 18,607 18,682 19,280
NZD 15,303 15,851
KRW 18.01 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25940 25940 26300
AUD 18355 18455 19377
CAD 18651 18751 19762
CHF 32287 32317 33895
CNY 3826.4 3851.4 3986.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30116 30146 31871
GBP 35167 35217 36985
HKD 0 3330 0
JPY 161.22 161.72 172.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15415 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20206 20336 21058
THB 0 744 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14380000 14380000 14720000
SBJ 12500000 12500000 14720000
Cập nhật: 22/08/2026 08:30
Ngân hàng