Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Ánh Tuyết
Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Đổi “thước đo” sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn? “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Thanh khoản và đòn bẩy ngân hàng trước “phép thử” mới

Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) vừa phát hành báo cáo đánh giá về các quy định sửa đổi, thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 22), nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, hướng tới Basel III về dài hạn.

Dự thảo đưa vào 4 chỉ tiêu quan trọng, bao gồm: CDR, tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy (LEV).

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III,

Trong đó, LCR, NSFR và LEV hướng đến quản trị thanh khoản và đòn bẩy theo chuẩn quốc tế Basel III, trong khi CDR là quy định mang tính đặc thù nhằm kiểm soát mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp.

“Nhìn chung, dự thảo hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, khi chuyển trọng tâm từ việc quản lý dựa vào các chỉ tiêu cân đối đơn thuần sang tập trung vào chất lượng tài sản thanh khoản, mức độ ổn định nguồn vốn và tính bền vững của tăng trưởng bảng cân đối kế toán. Nói cách khác, việc tăng trưởng phải đi cùng với nguồn vốn ổn định và bộ đệm thanh khoản vững chắc hơn” - S&I Ratings nhận định.

Trong đó, chỉ tiêu LCR yêu cầu các ngân hàng duy trì đủ tài sản thanh khoản cao (HQLA) để đáp ứng nhu cầu chi trả trong kịch bản thị trường căng thẳng kéo dài 30 ngày. So với quy định hiện hành, LCR xác định HQLA theo hướng phản ánh chất lượng thanh khoản thực chất hơn.

Chỉ tiêu NSFR đảm bảo các tài sản dài hạn phải được tài trợ bởi nguồn vốn ổn định/dài hạn tương ứng, qua đó, hạn chế rủi ro mất cân đối kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn.

Chỉ tiêu LEV đóng vai trò như lớp bảo vệ bổ sung cho các tỷ lệ an toàn vốn hiện hành; hạn chế mở rộng quy mô bảng cân đối kế toán dựa vào đòn bẩy quá mức, kể cả khi ngân hàng nắm giữ các tài sản có rủi ro thấp.

Còn CDR yêu cầu tăng trưởng tín dụng phải gắn chặt với khả năng huy động nguồn vốn từ thị trường 1, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn kém ổn định như thị trường liên ngân hàng.

“Phạm vi dư nợ được mở rộng khi bao gồm tất cả các hình thức cấp tín dụng khác: đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh, thư tín dụng…; đồng thời, tinh lọc cơ sở huy động khi loại trừ các khoản tiền gửi liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá nắm chéo giữa các tổ chức tín dụng” - S&I Ratings nêu rõ.

Chỉ tiêu CDR khắt khe hơn, nhiều ngân hàng dự kiến vượt trần

Theo nhóm phân tích của S&I Ratings, việc đưa các chuẩn mực Basel III vào khuôn khổ pháp lý là bước đi cần thiết nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trong dài hạn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các yêu cầu về LCR và NSFR thường được áp dụng theo lộ trình để các ngân hàng từng bước thích nghi.

Nguồn vốn kém ổn định, bộ đệm thanh khoản mỏng sẽ gặp thách thức

“Tác động đến hệ thống sẽ diễn ra theo hướng tăng dần chi phí tuân thủ, thay vì tạo ra cú sốc ngắn hạn. Các ngân hàng có nền tảng tiền gửi bán lẻ vững chắc, tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn cao, bộ đệm tài sản thanh khoản lớn sẽ có lợi thế hơn trong quá trình triển khai Basel III, trong khi nhóm phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn kém ổn định hoặc sở hữu bộ đệm thanh khoản mỏng sẽ gặp thách thức hơn để đáp ứng các yêu cầu mới” - S&I Ratings nêu quan điểm.

Tại Việt Nam, một số ngân hàng như TPBank, ACB, HDBank, MB, Techcombank đã và đang triển khai các chỉ tiêu này trong giám sát rủi ro định kỳ.

Chỉ tiêu CDR là nội dung có tác động đáng chú ý nhất trong dự thảo. So với LDR hiện hành, CDR được thiết kế theo hướng thận trọng hơn khi mở rộng phạm vi cấp tín dụng, nhưng đồng thời thu hẹp cơ sở nguồn vốn được ghi nhận, trong khi ngưỡng quy định vẫn duy trì ở mức 85%.

“Theo ước tính của chúng tôi, CDR tại hầu hết ngân hàng sẽ cao hơn đáng kể so với LDR hiện hành, do cả tử số và mẫu số đều thay đổi theo hướng bất lợi” - nhóm phân tích của S&I Ratings đánh giá.

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III,

Đến cuối quý I/2026, các khoản cấp tín dụng ngoài cho vay truyền thống bao gồm: đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh, thư tín dụng... có quy mô tương đương 14% dư nợ cho vay toàn ngành.

Trong khi đó, nguồn vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá (chưa tách riêng phần nắm giữ bởi các ngân hàng) lần lượt chiếm gần 25% và 13% quy mô cho vay.

Điều này cho thấy tác động từ việc thu hẹp mẫu số lớn hơn so với tác động mở rộng tử số, trong khi các yếu tố hỗ trợ như: ghi nhận 20% tiền gửi Kho bạc và khấu trừ vốn chủ sở hữu chỉ bù đắp một phần.

Do đó, nếu được áp dụng, một số ngân hàng sẽ cần đẩy mạnh huy động từ thị trường 1, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng hoặc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tín dụng để đáp ứng ngưỡng quy định./.

CDR có thể được tinh chỉnh để cân bằng các mục tiêu

“Chúng tôi cho rằng, quy định về CDR sẽ còn tiếp tục được hoàn thiện trong trong thời gian tới. Quan điểm này xuất phát từ việc Ngân hàng Nhà nước gần đây liên tục ban hành các chính sách với thông điệp giảm áp lực thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nổi bật là Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, cùng cơ chế tín dụng đặc thù đối với các dự án trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise” - S&I Ratings nêu góc nhìn.

Trong bối cảnh đó, việc áp dụng một tỷ lệ nghiêm ngặt có thể làm giảm hiệu quả của các chính sách hỗ trợ. Vì vậy, nhóm phân tích của S&I Ratings kỳ vọng, lộ trình triển khai hoặc một số cấu phần trong phương pháp tính CDR sẽ tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa giữa mục tiêu nâng chuẩn quản trị rủi ro và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/6): USD giữ vững đà tăng, tỷ giá USD/JPY vọt lên mức cao nhất 40 năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/6): USD giữ vững đà tăng, tỷ giá USD/JPY vọt lên mức cao nhất 40 năm

(TBTCO) - Sáng 30/6, tỷ giá trung tâm tăng lên 25.206 đồng, trong khi chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 101,1 điểm. Dù áp lực địa chính trị tại Trung Đông hạ nhiệt, lập trường cứng rắn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn được đánh giá là yếu tố nâng đỡ đồng USD. Đáng chú ý, tỷ giá USD/JPY đã vượt mốc 162, lên mức cao nhất trong 4 thập kỷ.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

(TBTCO) - Việc đồng thời nhận hai giải thưởng tại Global Banking & Finance Awards® 2026 cho thấy dấu ấn ngày càng rõ nét của ABBank trong chuyển đổi số và mở rộng hoạt động bán lẻ. Đây cũng là sự ghi nhận quốc tế đối với chiến lược đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng của ABBank.
HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Bảo hiểm Quân đội được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp ESG Việt Nam Xanh 2026 ngành Bảo hiểm

Bảo hiểm Quân đội được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp ESG Việt Nam Xanh 2026 ngành Bảo hiểm

(TBTCO) - Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) vừa chính thức được vinh danh trong Top 10 Doanh nghiệp ESG Việt Nam Xanh 2026 ngành Bảo hiểm (nhóm bảo hiểm phi nhân thọ). Đây là giải thưởng uy tín được các chuyên gia đánh giá và ghi nhận trong khuôn khổ Chương trình Nghiên cứu và Vinh danh về cam kết và thực hiện ESG trong các ngành kinh tế chủ lực năm 2026 do Viet Research phối hợp với Báo Tài chính - Đầu tư (Bộ Tài chính) tổ chức.
Nới dư địa tín dụng, ngân hàng thêm lực tài trợ dự án trung và dài hạn

Nới dư địa tín dụng, ngân hàng thêm lực tài trợ dự án trung và dài hạn

(TBTCO) - VPBankS đánh giá, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN và cơ chế loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ giúp các ngân hàng mở rộng dư địa cho vay. Đặc biệt, chính sách này được kỳ vọng hỗ trợ tài trợ các dự án lớn, giảm áp lực huy động vốn dài hạn, song mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa theo năng lực vốn và quản trị rủi ro của từng ngân hàng.
Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

(TBTCO) - Năm 2026, Vietnam Airlines đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Dù dự kiến lãi khoảng 2.000 tỷ đồng nửa đầu năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm khoảng 510 tỷ đồng do áp lực từ giá nhiên liệu bay. Hãng tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn, tăng vốn để trả nợ, đầu tư dài hạn và chủ động ứng phó biến động thị trường.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,150 ▼100K 13,350 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼100K 14,150 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼100K 14,080 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▼1000K 147,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▼100K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▼50K 14,650 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▼50K 14,650 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▼50K 14,650 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,840 ▼50K 14,540 ▼50K
Trang sức 99.99 13,850 ▼50K 14,550 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1K 14,702 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1K 14,703 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▼10K 1,469 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▼10K 147 ▼1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼10K 1,454 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼99K 14,396 ▼99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▼750K 109,211 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▼680K 99,032 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▼610K 88,853 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67826K 84,927 ▲76376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▼417K 60,788 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1K 147 ▼1K
Cập nhật: 30/06/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17590 17863 18439
CAD 17953 18228 18847
CHF 31876 32257 32902
CNY 0 3836 3929
EUR 29361 29582 30665
GBP 34011 34401 35339
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14583 15171
SGD 19784 20065 20635
THB 707 770 824
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,487 29,511 30,895
JPY 157.73 158.01 167.43
GBP 34,224 34,317 35,471
AUD 17,757 17,821 18,488
CAD 18,144 18,202 18,860
CHF 32,115 32,215 33,137
SGD 19,906 19,968 20,731
CNY - 3,802 3,944
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 15.67 16.34 17.76
THB 756.03 765.37 818.25
NZD 14,553 14,688 15,113
SEK - 2,661 2,753
DKK - 3,945 4,081
NOK - 2,598 2,688
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,041.33 - 6,815.97
TWD 745.88 - 902.26
SAR - 6,887.93 7,248.76
KWD - 83,165 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,472 29,590 30,783
GBP 34,220 34,357 35,382
HKD 3,287 3,300 3,418
CHF 32,004 32,133 33,061
JPY 158.12 158.76 166.56
AUD 17,734 17,805 18,396
SGD 19,990 20,070 20,656
THB 770 773 808
CAD 18,174 18,247 18,814
NZD 14,606 15,141
KRW 16.28 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26096 26096 26466
AUD 17759 17859 18782
CAD 18126 18226 19239
CHF 32085 32115 33697
CNY 3816.6 3841.6 3977
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29523 29553 31278
GBP 34308 34358 36127
HKD 0 3355 0
JPY 158.56 159.06 169.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14673 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19938 20068 20790
THB 0 736.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,334 26,334 26,466
USD20 26,334 26,334 26,466
USD1 23,946 26,334 26,466
AUD 17,745 17,895 19,026
EUR 29,600 29,657 31,108
CAD 18,012 18,162 19,494
SGD 20,000 20,156 20,738
JPY 158.97 160.47 165.23
GBP 34,140 34,540 35,450
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/06/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80