Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Ánh Tuyết
Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Đổi “thước đo” sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn? “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Thanh khoản và đòn bẩy ngân hàng trước “phép thử” mới

Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) vừa phát hành báo cáo đánh giá về các quy định sửa đổi, thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 22), nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, hướng tới Basel III về dài hạn.

Dự thảo đưa vào 4 chỉ tiêu quan trọng, bao gồm: CDR, tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy (LEV).

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III,

Trong đó, LCR, NSFR và LEV hướng đến quản trị thanh khoản và đòn bẩy theo chuẩn quốc tế Basel III, trong khi CDR là quy định mang tính đặc thù nhằm kiểm soát mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp.

“Nhìn chung, dự thảo hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, khi chuyển trọng tâm từ việc quản lý dựa vào các chỉ tiêu cân đối đơn thuần sang tập trung vào chất lượng tài sản thanh khoản, mức độ ổn định nguồn vốn và tính bền vững của tăng trưởng bảng cân đối kế toán. Nói cách khác, việc tăng trưởng phải đi cùng với nguồn vốn ổn định và bộ đệm thanh khoản vững chắc hơn” - S&I Ratings nhận định.

Trong đó, chỉ tiêu LCR yêu cầu các ngân hàng duy trì đủ tài sản thanh khoản cao (HQLA) để đáp ứng nhu cầu chi trả trong kịch bản thị trường căng thẳng kéo dài 30 ngày. So với quy định hiện hành, LCR xác định HQLA theo hướng phản ánh chất lượng thanh khoản thực chất hơn.

Chỉ tiêu NSFR đảm bảo các tài sản dài hạn phải được tài trợ bởi nguồn vốn ổn định/dài hạn tương ứng, qua đó, hạn chế rủi ro mất cân đối kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn.

Chỉ tiêu LEV đóng vai trò như lớp bảo vệ bổ sung cho các tỷ lệ an toàn vốn hiện hành; hạn chế mở rộng quy mô bảng cân đối kế toán dựa vào đòn bẩy quá mức, kể cả khi ngân hàng nắm giữ các tài sản có rủi ro thấp.

Còn CDR yêu cầu tăng trưởng tín dụng phải gắn chặt với khả năng huy động nguồn vốn từ thị trường 1, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn kém ổn định như thị trường liên ngân hàng.

“Phạm vi dư nợ được mở rộng khi bao gồm tất cả các hình thức cấp tín dụng khác: đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh, thư tín dụng…; đồng thời, tinh lọc cơ sở huy động khi loại trừ các khoản tiền gửi liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá nắm chéo giữa các tổ chức tín dụng” - S&I Ratings nêu rõ.

Chỉ tiêu CDR khắt khe hơn, nhiều ngân hàng dự kiến vượt trần

Theo nhóm phân tích của S&I Ratings, việc đưa các chuẩn mực Basel III vào khuôn khổ pháp lý là bước đi cần thiết nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trong dài hạn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các yêu cầu về LCR và NSFR thường được áp dụng theo lộ trình để các ngân hàng từng bước thích nghi.

Nguồn vốn kém ổn định, bộ đệm thanh khoản mỏng sẽ gặp thách thức

“Tác động đến hệ thống sẽ diễn ra theo hướng tăng dần chi phí tuân thủ, thay vì tạo ra cú sốc ngắn hạn. Các ngân hàng có nền tảng tiền gửi bán lẻ vững chắc, tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn cao, bộ đệm tài sản thanh khoản lớn sẽ có lợi thế hơn trong quá trình triển khai Basel III, trong khi nhóm phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn kém ổn định hoặc sở hữu bộ đệm thanh khoản mỏng sẽ gặp thách thức hơn để đáp ứng các yêu cầu mới” - S&I Ratings nêu quan điểm.

Tại Việt Nam, một số ngân hàng như TPBank, ACB, HDBank, MB, Techcombank đã và đang triển khai các chỉ tiêu này trong giám sát rủi ro định kỳ.

Chỉ tiêu CDR là nội dung có tác động đáng chú ý nhất trong dự thảo. So với LDR hiện hành, CDR được thiết kế theo hướng thận trọng hơn khi mở rộng phạm vi cấp tín dụng, nhưng đồng thời thu hẹp cơ sở nguồn vốn được ghi nhận, trong khi ngưỡng quy định vẫn duy trì ở mức 85%.

“Theo ước tính của chúng tôi, CDR tại hầu hết ngân hàng sẽ cao hơn đáng kể so với LDR hiện hành, do cả tử số và mẫu số đều thay đổi theo hướng bất lợi” - nhóm phân tích của S&I Ratings đánh giá.

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III,

Đến cuối quý I/2026, các khoản cấp tín dụng ngoài cho vay truyền thống bao gồm: đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh, thư tín dụng... có quy mô tương đương 14% dư nợ cho vay toàn ngành.

Trong khi đó, nguồn vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá (chưa tách riêng phần nắm giữ bởi các ngân hàng) lần lượt chiếm gần 25% và 13% quy mô cho vay.

Điều này cho thấy tác động từ việc thu hẹp mẫu số lớn hơn so với tác động mở rộng tử số, trong khi các yếu tố hỗ trợ như: ghi nhận 20% tiền gửi Kho bạc và khấu trừ vốn chủ sở hữu chỉ bù đắp một phần.

Do đó, nếu được áp dụng, một số ngân hàng sẽ cần đẩy mạnh huy động từ thị trường 1, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng hoặc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tín dụng để đáp ứng ngưỡng quy định./.

CDR có thể được tinh chỉnh để cân bằng các mục tiêu

“Chúng tôi cho rằng, quy định về CDR sẽ còn tiếp tục được hoàn thiện trong trong thời gian tới. Quan điểm này xuất phát từ việc Ngân hàng Nhà nước gần đây liên tục ban hành các chính sách với thông điệp giảm áp lực thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nổi bật là Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, cùng cơ chế tín dụng đặc thù đối với các dự án trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise” - S&I Ratings nêu góc nhìn.

Trong bối cảnh đó, việc áp dụng một tỷ lệ nghiêm ngặt có thể làm giảm hiệu quả của các chính sách hỗ trợ. Vì vậy, nhóm phân tích của S&I Ratings kỳ vọng, lộ trình triển khai hoặc một số cấu phần trong phương pháp tính CDR sẽ tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa giữa mục tiêu nâng chuẩn quản trị rủi ro và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Từ ngày 1/7/2026, khi văn bản chấp thuận nghiệm thu PCCC của cơ quan công an không còn là điều kiện bắt buộc, các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải tự xác minh mức độ an toàn cháy nổ của khách hàng trước khi cấp đơn — một phép thử năng lực khảo sát và thẩm định rủi ro thực sự của thị trường.
LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Năm 2025, LPBank đóng góp 3.298 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng hơn 3 lần so với năm 2021, đưa ngân hàng vào Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả này ghi dấu hành trình mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước gia tăng năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
NL 99.99 13,650 ▲250K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲250K
Trang sức 99.9 13,960 ▲330K 14,560 ▲330K
Trang sức 99.99 13,970 ▲330K 14,570 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1254K 14,602 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1254K 14,603 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲33K 1,455 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲33K 1,456 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲33K 144 ▼1263K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲3267K 142,574 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲2475K 108,161 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼77208K 9,808 ▼86028K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲2013K 87,999 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼64955K 8,411 ▼73775K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲1376K 60,204 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cập nhật: 20/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18054 18329 18908
CAD 18421 18698 19318
CHF 32110 32492 33133
CNY 0 3840 3950
EUR 29890 30112 31196
GBP 34803 35196 36129
HKD 0 3196 3399
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15231 15822
SGD 19993 20276 20846
THB 709 773 826
USD (1,2) 25833 0 0
USD (5,10,20) 25873 0 0
USD (50,100) 25901 25915 26285
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,960 25,960 26,340
USD(1-2-5) 24,922 - -
USD(10-20) 24,922 - -
EUR 29,940 29,964 31,383
JPY 160.53 160.82 170.53
GBP 34,958 35,053 36,265
AUD 18,273 18,339 19,032
CAD 18,594 18,654 19,343
CHF 32,301 32,401 33,349
SGD 20,141 20,204 20,996
CNY - 3,814 3,960
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.29 18.03 19.61
THB 759.44 768.82 823.14
NZD 15,225 15,366 15,818
SEK - 2,724 2,820
DKK - 4,015 4,157
NOK - 2,757 2,855
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,045.76 - 6,825.13
TWD 741.14 - 897.85
SAR - 6,845.36 7,210.07
KWD - 82,848 88,150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,995 30,115 31,314
GBP 34,971 35,111 36,149
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 32,179 32,308 33,251
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,288 18,361 18,960
SGD 20,225 20,306 20,904
THB 777 780 817
CAD 18,616 18,691 19,289
NZD 15,291 15,839
KRW 17.93 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18251 18351 19274
CAD 18608 18708 19723
CHF 32385 32415 33993
CNY 3822.7 3847.7 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30100 30130 31855
GBP 35111 35161 36919
HKD 0 3330 0
JPY 161.3 161.8 172.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.1 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15348 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20161 20291 21013
THB 0 739 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 12500000 12500000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,977 26,027 26,340
USD20 25,927 26,027 26,819
USD1 25,877 26,027 26,869
AUD 18,322 18,422 19,530
EUR 29,916 30,016 31,676
CAD 18,568 18,668 19,976
SGD 20,272 20,422 21,058
JPY 162 163.5 169.07
GBP 35,031 35,181 36,244
XAU 14,298,000 0 14,602,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80