Ba ngân hàng khởi động mùa họp cổ đông 2025 với nhiều kế hoạch tham vọng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ba ngân hàng mở màn mùa họp đại hội đồng cổ đông năm 2025 là VIB, Nam A Bank và NCB đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ, có ngân hàng phấn đấu chấm dứt tình trạng lợi nhuận giảm sút, chuyển sang tăng trưởng dương 22%, có nhà băng đặt kế hoạch tăng vốn điều lệ tới 60%.
aa

Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB - Mã Ck: VIB) là ngân hàng mở màn mùa họp đại hội đồng cổ đông năm nay vào ngày 27/3 tại TP.HCM. Nhà băng này đặt mục tiêu đạt lợi nhuận trước thuế đạt 11.020 tỷ đồng, kỳ vọng thoát tăng trưởng âm trong năm 2025 khi tăng 22% cùng kỳ, đảo chiều so với mức giảm 16% trong năm 2024.

VIB đặt mục tiêu lợi nhuận hơn 11.000 tỷ đồng, kỳ vọng thoát tăng trưởng âm

Để đạt mục tiêu trên, năm 2025, VIB phấn đấu tăng tổng dư nợ tín dụng 22%, đạt 395.800 tỷ đồng, trong khi huy động vốn tăng 26% lên 377.300 tỷ đồng và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Cùng với đó, ngân hàng cũng đặt mục tiêu đưa tổng tài sản đạt trên 600 nghìn tỷ đồng (600.350 tỷ đồng), với mức tăng trưởng 22% so với năm 2024.

Ba ngân hàng khởi động mùa họp cổ đông 2025 với nhiều kế hoạch tham vọng
Nguồn: Kế hoạch kinh doanh năm 2025 của VIB.

VIB đặt mục tiêu năm 2025 đạt lợi nhuận trước thuế 11.020 tỷ đồng, tăng 22%. Phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông với tỷ lệ tối đa 14%; phát hành cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên với tỷ lệ tối đa 0,26%; chia cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ tối đa 7%.

Cũng trong năm 2025, ngân hàng VIB lên kế hoạch chia cổ tức tiền mặt tối đa 7%, tương đương hơn 2.085 tỷ đồng.

Đồng thời, VIB dự kiến phát hành 417,07 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu (tăng tối đa 14%) và 7,8 triệu cổ phiếu thưởng cho cán bộ nhân viên (tăng tối đa 0,26%), giúp vốn điều lệ tăng thêm 3.404 tỷ đồng, lên 34.040 tỷ đồng.

Nguồn vốn tăng thêm sẽ được phân bổ vào hoạt động kinh doanh, cấp tín dụng và đầu tư vào các tài sản thanh khoản; đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, phát triển sản phẩm dịch vụ, nhân sự; đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới chi nhánh, thị phần và quy mô hoạt động của ngân hàng.

Nam A Bank đặt mục tiêu lợi nhuận 5.000 tỷ đồng, tăng vốn điều lệ trên 30%

Tiếp sau đó, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - Mã Ck: NAB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông vào ngày 28/3 tại TP. Đà Lạt.

Năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 270 nghìn tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ cho vay cá nhân và tổ chức kinh tế đạt 194 nghìn tỷ đồng, tăng 16%; huy động vốn đạt 209 nghìn tỷ đồng, tăng 17%. Tỷ lệ nợ xấu không vượt quá 2,5%.

Nam A Bank đạt mục tiêu đạt lợi nhuận 5.000 tỷ đồng, tăng 10%. Cùng với đó, chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 25%; chào bán 85 triệu cổ phiếu ESOP với giá 10.000 đồng/cổ phiếu; phát hành trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, tối đa 2.000 tỷ đồng.

Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 5.000 tỷ đồng, được tính toán trên cơ sở tăng trưởng tín dụng đạt được mức kế hoạch đề ra và phù hợp quy định Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định hiện hành của NHNN và điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định.

Ngoài ra, nhằm khuyến khích các đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận được giao, ngân hàng trình đại hội thông qua chính sách trích 20% phần lợi nhuận trước thuế hợp nhất vượt kế hoạch để động viên, khích lệ cán bộ nhân viên Ngân hàng Nam Á, được hạch toán vào chi phí nhân sự trong hoạt động của ngân hàng.

Về kế hoạch tăng vốn năm 2025, Nam A Bank dự kiến tăng vốn điều lệ năm 2025 thêm tối đa 4.281,4 tỷ đồng, nâng mức vốn điều lệ từ mức 13.725,5 tỷ đồng lên trên 18 nghìn tỷ đồng (18.007 tỷ đồng). Theo đó, ngân hàng dự kiến phát hành thêm 343,1 triệu cổ phiếu (tỷ lệ 25%), giúp tăng vốn điều lệ thêm hơn 3.431 tỷ đồng. Cùng với đó, phát hành 85 triệu cổ phiếu ESOP phát hành cổ phiếu cho nhân viên, với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, bị hạn chế chuyển nhượng 100% trong năm đầu và 50% trong năm tiếp theo.

Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hành trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ tối đa 2.000 tỷ đồng, chia thành hai đợt với giá trị 1.000 tỷ đồng/đợt, dự kiến thực hiện từ quý III/2025 đến quý I/2026. Đại hội đồng cổ đông cũng sẽ xem xét việc tiếp tục tham gia xử lý các Quỹ Tín dụng nhân dân.

NCB nỗ lực tăng trưởng cho vay 30%, lãi trước phương án cơ cấu lại 59 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên của Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB - Mã Ck: NVB) sẽ diễn ra ngày 29/3 tại Hà Nội.

Theo kế hoạch, năm 2025, NCB đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 14,6% lên 135.500 tỷ đồng; cho vay khách hàng tăng 30% đạt 92.528 tỷ đồng; huy động khách hàng tăng 23,2%; và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng 56%.

Ba ngân hàng khởi động mùa họp cổ đông 2025 với nhiều kế hoạch tham vọng
Nguồn: Kế hoạch kinh doanh năm 2025 của NCB.

Theo báo cáo của hội đồng quản trị tổng kết nhiệm kỳ 2020 - 2025, kết quả hoạt động năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ 2025 - 2030, lãnh đạo NCB cho biết, trong năm 2024, ngân hàng thực hiện đúng theo phương án cơ cấu lại đã báo cáo NHNN và được cấp thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. Việc trích lập dự phòng, thoái lãi dự thu và xử lý các khoản tồn tại cũ khiến lợi nhuận năm 2024 âm. Do lợi nhuận sau thuế năm 2024 âm, hội đồng quản trị trình Đại hội đồng cổ đông phương án không phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ trong năm 2024.

Tổng xử lý và thu hồi nợ gốc đến nay đạt 26.287 tỷ đồng, tương đương gần 50% số dư nợ tín dụng cũ. Trong tổng danh mục nợ xấu hiện nay thì nợ xấu phát sinh từ các khoản vay mới giải ngân trong năm 2024 chỉ chiếm 0,83%.

Về kế hoạch tăng vốn điều lệ, năm 2025, NCB dự kiến phát hành 700 triệu cổ phiếu riêng lẻ, tăng vốn điều lệ 7.000 tỷ đồng, từ 11.780 tỷ lên 18.780 tỷ đồng (tương đương tăng 59,42%). Giá chào bán không thấp hơn 10.000 đồng/cổ phiếu, cổ phiếu phát hành riêng lẻ bị hạn chế chuyển nhượng trong một năm. Thời gian phát hành dự kiến từ quý II - IV/2025, sau khi được NHNN và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

Ngoài ra, Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu 7 thành viên hội đồng quản trị và 5 thành viên ban kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030, theo quy chuẩn mới của Luật Các tổ chức tín dụng./.

NCB đặt mục tiêu tăng vốn điều lệ gần 60%, lên gần 19.000 tỷ đồng

Năm 2025, NCB dự kiến đạt lợi nhuận trước phương án cơ cấu lại là 59 tỷ đồng. Ngân hàng dự định phát hành 700 triệu cổ phiếu riêng lẻ, tăng vốn điều lệ lên 18.780 tỷ đồng. Đại hội đồng cổ đông cũng sẽ bầu 7 thành viên hội đồng quản trị và 5 thành viên ban kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80