Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
aa
Tỷ giá VND/USD vẫn giao dịch quanh vùng đỉnh sau khi Ngân hàng Nhà nước bán can thiệp ngoại tệ “Sóng” tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP ngày 20/5/2014 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (Nghị định 50).

Dự thảo gồm 2 Điều, trong đó, Điều 1 gồm 11 khoản, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 50; Điều 2 hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.

Theo Ngân hàng Nhà nước, sau hơn 10 năm thực hiện, Nghị định 50 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, từng bước chuẩn hóa các nghiệp vụ quản lý theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng phát sinh nhiều vướng mắc cần được sửa đổi, bổ sung.

Trong những giai đoạn điều kiện thị trường thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước đã mua ngoại tệ bổ sung quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước, tạo bộ đệm vững chắc để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, tăng cường uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và tạo niềm tin với các nhà đầu tư nước ngoài.

Nhờ đó, quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước đã tăng một cách đáng kể, từ mức 34,3 tỷ USD cuối năm 2014 lên mức kỷ lục là hơn 111,8 tỷ USD vào tháng 1/2022.

“Sau khi đạt mức cao nhất vào tháng 01/2022, trong những năm gần đây, quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước đã có xu hướng giảm nhẹ. Cụ thể, cuối năm 2022, quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước giảm về 86,7 tỷ USD. Đến 18/6/2026, quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước ở mức gần 87,6 tỷ USD” - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Kể từ tháng 1/2022 đến nay, thị trường tài chính trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến thị trường ngoại hối và gây áp lực lớn lên tỷ giá.

Đặc biệt là trong bối cảnh Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chu kỳ tăng lãi suất và duy trì lãi suất ở mức cao (trong giai đoạn từ đầu năm 2022 đến cuối năm 2024), cùng với ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19, chính sách thương mại, thuế quan bất định, khó lường của chính quyền Mỹ, xung đột địa chính trị liên tục căng thẳng, giá năng lượng tăng, chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng…

Dự trữ ngoại hối nhà nước đã luôn bảo đảm bộ đệm vững chắc để Ngân hàng Nhà nước kết hợp với các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác, đảm bảo ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát, qua đó, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Tại dự thảo trình Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa đổi nhiều nội dung liên quan đến nguyên tắc sinh lời, cơ cấu đầu tư dự trữ ngoại hối, cơ chế phối hợp mua bán ngoại tệ giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, chế độ báo cáo cũng như phạm vi sử dụng các quỹ thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa đổi quy định về nguyên tắc sinh lời đối với dự trữ ngoại hối nhà nước theo hướng loại trừ thu nhập và chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư vàng khi tính toán hiệu quả đầu tư.

“Các ngân hàng trung ương giữ vàng trong dự trữ ngoại hối nhằm mục tiêu dự phòng, hỗ trợ cho các tình huống khẩn cấp của quốc gia, đồng thời nhằm hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ” - ban soạn thảo nêu rõ.

Tuy nhiên, giá vàng thường có xu hướng biến động ngược chiều với các tài sản tài chính có mức độ rủi ro cao hơn như cổ phiếu, trái phiếu… Khi đầu tư vào vàng, Ngân hàng Nhà nước không nhận được lãi định kỳ (hay coupon) cho số vàng này mà chỉ thể hiện giá trị thông qua đánh giá lại hoặc thực hiện bán vàng. Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện mua, bán vàng, chênh lệch giá vàng sẽ được tính vào thu nhập hoặc chi phí đầu tư dự trữ ngoại hối nhà nước.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung hoạt động “quyền chọn” ngoại tệ vào các hình thức can thiệp thị trường hoặc các hình thức can thiệp khác, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai can thiệp thị trường theo yêu cầu điều hành trong từng thời kỳ. Việc bổ sung công cụ này nhằm đa dạng hóa các hình thức can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, qua đó, góp phần hỗ trợ ổn định thị trường, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng đề xuất bổ sung quy định về giao dịch ngoại tệ giữa dự trữ ngoại hối chính thức và các tổ chức tín dụng bị rút tiền hàng loạt, để hỗ trợ thanh khoản theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước...

Bỏ cơ chế can thiệp định sẵn, tăng tính chủ động

Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 18 về can thiệp thị trường trong nước. Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định phương án can thiệp khi cần thiết trên cơ sở các yếu tố sau đây: a) Mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia; b) Tình hình thị trường ngoại tệ đối với trường hợp can thiệp trên thị trường ngoại tệ trong nước; c) Tình hình thị trường vàng trong nước đối với trường hợp can thiệp thị trường vàng trong nước; d) Tình hình thanh khoản đồng Việt Nam đối với trường hợp can thiệp liên quan đến thanh khoản đồng Việt Nam trên thị trường trong nước.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hình thức can thiệp khác quy định tại khoản 2 Điều này.

Lý giải việc bỏ quy định Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ chế can thiệp thị trường trong nước trong từng thời kỳ, ban soạn thảo cho rằng, can thiệp thị trường là một công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm bình ổn thị trường khi có dấu hiệu bất ổn hoặc có các cú sốc bất ngờ xảy ra. Do đó, hoạt động can thiệp thị trường phải được thực hiện một cách kịp thời và linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời điểm và bối cảnh, điều kiện thị trường cụ thể. Nếu cơ chế can thiệp thị trường được xây dựng trước sẽ là cứng nhắc và không phù hợp, phát sinh khó khăn trong triển khai thực hiện, nhất là trong trường hợp thị trường biến đổi nhanh, bất ngờ.

Nghị định quy định về cơ sở xây dựng phương án can thiệp, nội dung phương án can thiệp nên được quy định tại Thông tư hướng dẫn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

(TBTCO) - Sáng 6/7, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.202 đồng, trong khi tỷ giá USD tự do dao động hẹp quanh 26.520 - 26.560 VND/USD. Chỉ số DXY tăng nhẹ lên 100,92 điểm, nhưng USD vẫn ở gần mức thấp nhất hai tuần do kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất suy giảm. Dù vậy, ngân hàng OCBC (Singapore) vẫn dự báo đồng USD có thể tăng 2 - 3% nửa cuối năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80