Tỷ giá VND/USD vẫn giao dịch quanh vùng đỉnh sau khi Ngân hàng Nhà nước bán can thiệp ngoại tệ

Thái Duy
(TBTCO) - Trên thị trường ngoại hối trong nước tuần qua, trái ngược với xu hướng thế giới, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng gần như không có nhiều thay đổi và giao dịch quanh vùng đỉnh lịch sử (25.450 VND). Trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã phải thực hiện nghiệp vụ bán can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ từ phía các ngân hàng thương mại với khối lượng tương đối lớn.
aa

Tỷ giá vẫn tăng

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần qua của SSI Research cho thấy, trên thị trường trong nước, trái ngược với xu hướng thế giới, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng gần như không có nhiều thay đổi và giao dịch quanh vùng đỉnh lịch sử (25.450 VND). Tỷ giá niêm yết tại VCB giảm 30 đồng so với cuối tuần trước, trong khi đó tỷ giá tự do tăng 70 đồng, đóng cửa lần lượt ở 25.450 VND và 25.820 VND.

Theo SSI Research, Ngân hàng Nhà nước đã phải thực hiệp nghiệp vụ bán can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ từ phía các ngân hàng thương mại với khối lượng tương đối lớn. Cụ thể, cán cân thương mại trong nửa đầu tháng 5 nhập siêu lên tới 2,6 tỷ USD đã tạo áp lực lớn lên trạng thái ngoại tệ của ngân hàng thương mại, bên cạnh yếu tố mùa vụ khi doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước.

Tỷ giá VND/USD vẫn giao dịch quanh vùng đỉnh sau khi Ngân hàng Nhà nước bán can thiệp ngoại tệ

Thống kê tại sáng ngày 22/5/2024, tỷ giá được phép giao dịch của các ngân hàng thương mại dao động từ 23.400 – 25450 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước mua vào - bán ra hiện ở mức 23.400 VND/USD – 25.450 VND/USD.

Tỷ giá VND/USD trong nước vào sáng 22/5 tiếp tục tăng nhẹ tại các ngân hàng thương mại. Tỷ giá VND/USD tại VCB có mức mua vào là 25.233 VND/USD và mức bán ra là 25.463 VND/USD, tăng 4 VND ở cả 2 chiều mua - bán so với sáng ngày 21/5.

Trên thế giới, trong tuần qua, bên cạnh dữ liệu CPI tháng 4 của Mỹ hạ nhiệt, các số liệu kinh tế đều chỉ ra tín hiệu không quá tích cực như doanh số bán lẻ và sản lượng công nghiệp đều đi ngang so với tháng trước và thấp hơn so với kỳ vọng. Nhờ vậy, thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất 2 lần trong năm nay đang cao hơn (37% - từ mức 32% trong tháng trước).

Đồng USD, thông qua chỉ số DXY giảm 0,8% trong tuần trước và các đồng tiền chủ chốt đều tăng giá so với USD như GBP (1,4%), EUR (+0,9%), JPY (+0,1%) có mức tăng khá hạn chế do dữ liệu GDP quý I khá yếu của Nhật Bản. Ngược lại, các đồng tiền trong khu vực châu Á đều ghi nhận mức tăng khá tốt trong tuần qua như THB (+1,7%), KRW (+0,9%) hay TWD (+0,6%).

Theo kế hoạch, trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước thực hiện 2 phiên đấu thầu vàng, một phiên đã diễn ra hôm 21/5 và một phiên nữa dự kiến muộn hơn 2 ngày, tức ngày 23/5.

Cũng theo báo cáo của SSI Research, tuần qua, giá vàng SJC sau khi tăng mạnh trong tuần trước đó đã nhanh chóng giảm mạnh (giảm tới 2,7% trong tuần trước) mặc dù giá vàng thế giới tiếp tục vượt đỉnh lịch sử (tăng tới 2,3%). Như vậy, chênh lệch giữa giá vàng SJC trong nước và thế giới đã bị thu hẹp lại chỉ còn khoảng 16 triệu đồng/lượng và Ngân hàng Nhà nước đã đẩy mạnh hoạt động đấu thầu vàng với tổng khối lượng trúng thầu lên đến 20,4 nghìn lượng.

Được biết, ngày 21/5, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tổ chức đấu thầu và đã có 9 thành viên trúng thầu, với khối lượng trúng thầu là 79 lô, tương đương với 7,9 nghìn lượng vàng miếng SJC. Giá trúng thầu cao nhất và thấp nhất đều là 89,42 triệu đồng/lượng.

Theo kế hoạch, trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước thực hiện 2 phiên đấu thầu vàng, một phiên đã diễn ra hôm 21/5 và một phiên nữa dự kiến muộn hơn 2 ngày, tức ngày 23/5.

Thanh khoản hệ thống ổn định

Báo cáo của SSI Research cho biết, trong tuần trước, thanh khoản hệ thống ở trạng thái ổn định mặc dù Ngân hàng Nhà nước rút ròng thông qua kênh bán ngoại tệ và đấu thầu vàng. Đối với hoạt động thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 7,3 nghìn tỷ đồng, chủ yếu là nhờ khối lượng tín phiếu đáo hạn. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành 7,5 nghìn tỷ đồng trên kênh mua kỳ hạn ở kỳ hạn 7 ngày và lãi suất trúng thầu là 4,25% trên tổng số 7,3 nghìn tỷ đáo hạn.

Tỷ giá VND/USD vẫn giao dịch quanh vùng đỉnh sau khi Ngân hàng Nhà nước bán can thiệp ngoại tệ

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu kỳ hạn 28 ngày và có tổng cộng 6 nghìn tỷ đồng trúng thầu trên tổng số 13,1 nghìn tỷ đồng đáo hạn. Lãi suất đi ngang ở 3,75%/năm ở 4 phiên đầu tuần, phiên cuối tuần tăng lên mức 3,85%.

Tương tự, trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm có một tuần không có nhiều biến động và chốt phiên giao dịch cuối tuần ở 3,95%, giảm 20 điểm cơ bản so với tuần trước đó. Giá trị giao dịch trung bình ngày giảm nhẹ và chênh lệch lãi suất VND-USD nới rộng ra 120 điểm cơ bản./.

Thái Duy

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17894 18168 18745
CAD 18128 18403 19020
CHF 31649 32029 32673
CNY 0 3849 3942
EUR 29363 29583 30664
GBP 34251 34642 35580
HKD 0 3226 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14941 15529
SGD 19863 20145 20716
THB 699 762 816
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26144 26144 26504
AUD 18079 18179 19105
CAD 18310 18410 19426
CHF 31899 31929 33511
CNY 3830.3 3855.3 3990.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34587 34637 36395
HKD 0 3355 0
JPY 157.45 157.95 168.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15060 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20025 20155 20878
THB 0 728.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,510
USD20 26,144 26,194 26,510
USD1 26,144 26,194 26,510
AUD 18,125 18,225 19,332
EUR 29,356 29,456 31,112
CAD 18,269 18,369 19,675
SGD 20,103 20,253 20,809
JPY 157.99 159.49 165.05
GBP 34,511 34,661 35,717
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80