"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá USD “chợ đen” lao dốc 410 đồng so với cuối tuần trước, trong khi kênh chính thức cũng hạ nhiệt phần nào, dù áp lực vẫn hiện hữu. Kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất, thặng dư thương mại cải thiện và nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn giúp tỷ giá USD/VND bớt căng thẳng.
aa

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Theo công cụ CME Fedwatch, thị trường đang đặt cược 90% khả năng Fed giảm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp ngày 16 - 17/9, đưa lãi suất điều hành về mức 4 - 4,25%/năm. Đây sẽ là lần giảm đầu tiên trong năm, đánh dấu bước ngoặt chính sách sau thời gian dài duy trì mặt bằng cao. Trong khi đó, Ngân hàng Standard Chartered kỳ vọng Fed giảm lãi suất mạnh hơn, tới 50 điểm cơ bản.

USD trượt dốc dưới kỳ vọng Fed giảm lãi suất

Tâm lý thị trường chịu nhiều tác động từ mối quan hệ căng thẳng giữa Tổng thống Trump và Fed, làm dấy lên lo ngại về tính độc lập của Fed và làm giảm sức hấp dẫn của đồng USD như một tài sản trú ẩn an toàn. Cùng lúc, thị trường lao động Mỹ phát đi tín hiệu u ám khi chỉ tạo thêm 22.000 việc làm mới trong tháng 8, chưa bằng một phần ba so với dự báo của Dow Jones, càng khoét sâu nỗi lo suy yếu tăng trưởng.

Tính đến ngày 16/9, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,24 điểm, giảm gần 9% kể từ đầu năm và thấp nhất trong vòng 3,5 năm qua.

Tại thị trường trong nước, tỷ giá USD có phần dịu nhiệt. Ngày 16/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm là 25.208 VND/USD, giảm 8 đồng so với ngày 15/9 và lùi 90 đồng so với đỉnh ngày 22/8.

Tỷ giá “chợ đen” lao dốc, xuống 26.440 - 26.540 VND/USD, mất 410 đồng so với cuối tuần trước và thấp hơn 475 đồng so với đỉnh bán ra 27.015 VND/USD ngày 11/9.

Dù vậy, áp lực tăng giá USD từ đầu năm đến nay vẫn hiện hữu khi tỷ giá trung tâm tăng thêm 873 đồng (tăng 3,6%), vượt xa mức tăng 469 đồng cả năm 2024.

Trên thị trường tự do, tỷ giá “chợ đen” cũng tăng 600 đồng cả hai chiều, tương ứng tăng 2,3% từ đầu năm, song thấp hơn mức tăng 1.080 đồng cả năm 2024.

Trong khi đồng bạc xanh suy yếu, nhiều ngoại tệ chủ chốt lại bứt phá trên bảng niêm yết ngân hàng khi tỷ giá EUR/VND tăng tới 16%, còn GBP/VND tăng 12% so với đầu năm.

Đánh giá về áp lực lên VND, trong báo cáo cập nhật mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, đồng tiền của Việt Nam bị mất giá ngay cả khi USD đang yếu đi với chỉ số DXY giảm đáng kể từ đầu năm, trong khi các đồng tiền khác của khu vực châu Á lại tăng giá.

Đơn cử, tính đến nửa đầu năm 2025, đồng tiền của Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng giá lần lượt 5,6%; 6% và 6% kể từ đầu năm so với USD. "VND bị mất giá có lẽ do các vấn đề trong nước, bao gồm số trả nợ có mệnh giá bằng USD tăng mạnh đối với cả Chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân" - chuyên gia WB nhận định.

Vì vậy, tỷ giá trung tâm được nâng lên, kéo biên độ +/-5% cao hơn, tạo dư địa cho thị trường điều chỉnh. Ngoài ra, theo WB, Ngân hàng Nhà nước còn rút 1 tỷ USD dự trữ, làm giảm dự trữ ngoại hối còn 78,1 tỷ USD trong tháng 3/2025, tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu. Gần đây nhất, nhiều thống kê cho thấy, ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD, nhằm hạ nhiệt thị trường.

Chia sẻ gần đây, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, áp lực tỷ giá thời gian qua đến từ 3 yếu tố. Đó là chênh lệch lãi suất VND - USD, tái cấu trúc vốn của khu vực doanh nghiệp và Chính phủ, cùng tâm lý găm giữ được kích hoạt bởi thị trường vàng và kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá bớt căng thẳng khi xuất hiện một số điểm sáng.

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, kỳ vọng cung USD cải thiện

Nhận định về triển vọng tỷ giá sắp tới, WB kỳ vọng lãi suất quốc tế khi được các nước cắt giảm sẽ thu hẹp chênh lệch lãi suất và giảm áp lực tỷ giá USD/VND.

Trong báo cáo đầu tư mới công bố, bà Phan Thị Thanh Huyền - chuyên viên phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) cũng kỳ vọng, áp lực tỷ giá sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Bên cạnh đó, những tiến triển trong việc hoàn tất thỏa thuận thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch chính sách, cải thiện tâm lý nhà đầu tư về triển vọng thương mại và kinh tế.

"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa. Ảnh tư liệu.

Đánh giá tác động khi Fed dự kiến hạ lãi suất, ông Trần Ngọc Báu cho rằng, chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ đã âm từ quý II/2023, song 3 tháng gần đây, mức chênh lệch này dần giảm bớt ở thị trường 1 (huy động vốn từ người dân và tổ chức), dù lãi suất của Mỹ vẫn duy trì cao. Cùng với đó, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đang giảm, Việt Nam thì tăng, giúp thu hẹp khoảng cách.

Khoảng chênh lệch dần thu hẹp,
kỳ vọng cân bằng trong năm tới

"Lãi suất tại Mỹ nhiều khả năng sẽ giảm chậm, không nhất thiết Fed phải giảm nhanh. Thị trường trái phiếu Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều ẩn số, nên lợi suất trái phiếu (bond yield) và lãi suất huy động Mỹ có khả năng giảm chậm. Có thể mất 1 năm nữa mới đưa khoảng chênh lệch này về 0, điều này có nghĩa, áp lực từ việc dịch chuyển dòng vốn vẫn còn trong năm tới" - ông Trần Ngọc Báu đánh giá.

Bên cạnh đó, hiện nhiều doanh nghiệp và cả Chính phủ đều muốn trả nợ USD, vay VND để giảm rủi ro tỷ giá và chi phí vốn. Do đó, áp lực tỷ giá vẫn còn trong khoảng 1 năm tới, song bớt căng thẳng hơn 2 - 3 năm qua.

Theo vị chuyên gia này, khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, đi kèm với tín dụng và cung tiền được thúc đẩy, đồng nội tệ chắc chắn chịu áp lực. Năm nay, mức mất giá của VND đến nay vào khoảng 3,7 - 3,8%, vẫn còn “room” điều hành 1 - 2% nữa.

"Áp lực thời gian tới với nhà điều hành vẫn còn, ít nhất trong cả năm nữa, trước khi 3 yếu tố chính tác động đến tỷ giá mới được giải tỏa dần" - ông Báu nhìn nhận.

Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho rằng, tỷ giá cũng mang lại một điểm tích cực cho doanh nghiệp xuất khẩu. Trong bối cảnh phải gánh nặng thuế quan do chính quyền Trump áp đặt, việc VND mất giá phần nào bù đắp được tổn thất.

"Tất nhiên, với nền kinh tế mở như Việt Nam, cũng không muốn tỷ giá tăng quá nhiều, ngoài tầm kiểm soát" - ông Linh nhận định.

Về triển vọng tỷ giá thời gian tới, theo chuyên gia VCBS, có thể thấy một số yếu tố gây áp lực đã suy giảm. Theo đó, thặng dư thương mại hàng hóa tuy thấp trong nửa đầu năm, nhưng cải thiện liên tục 3 tháng gần đây, mở ra kỳ vọng nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn trong những tháng cuối năm.

Cùng với đó, áp lực từ tình trạng găm giữ USD, kéo dài từ năm 2022 do chênh lệch lãi suất Việt Nam - Mỹ, cũng được dự báo giảm khi Fed bước vào chu kỳ hạ lãi suất. Bên cạnh đó, việc ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cho phép tư nhân nhập khẩu vàng kỳ vọng sẽ thu hẹp chênh lệch giá trong - ngoài nước, qua đó, giảm đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và góp phần hạ nhiệt áp lực tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

(TBTCO) - Sáng 1/8, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.338 đồng/USD, lập đỉnh lịch sử và đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp; trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do đồng loạt giảm. Tuần qua, cả 3 ngân hàng trung ương cùng giữ nguyên lãi suất, trong khi Nhật Bản được ước tính đã can thiệp khoảng 53 tỷ USD để hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

(TBTCO) - Sáng 30/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 14 đồng lên 25.320 đồng/USD, tiếp tục lập vùng cao nhất từ trước đến nay, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại giảm nhẹ. Chỉ số DXY phục hồi lên 100,87 điểm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, song thị trường vẫn kỳ vọng Fed có thể tăng lãi suất một lần trước cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80