"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

(TBTCO) - Tỷ giá USD “chợ đen” lao dốc 410 đồng so với cuối tuần trước, trong khi kênh chính thức cũng hạ nhiệt phần nào, dù áp lực vẫn hiện hữu. Kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất, thặng dư thương mại cải thiện và nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn giúp tỷ giá USD/VND bớt căng thẳng.
aa

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Theo công cụ CME Fedwatch, thị trường đang đặt cược 90% khả năng Fed giảm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp ngày 16 - 17/9, đưa lãi suất điều hành về mức 4 - 4,25%/năm. Đây sẽ là lần giảm đầu tiên trong năm, đánh dấu bước ngoặt chính sách sau thời gian dài duy trì mặt bằng cao. Trong khi đó, Ngân hàng Standard Chartered kỳ vọng Fed giảm lãi suất mạnh hơn, tới 50 điểm cơ bản.

USD trượt dốc dưới kỳ vọng Fed giảm lãi suất

Tâm lý thị trường chịu nhiều tác động từ mối quan hệ căng thẳng giữa Tổng thống Trump và Fed, làm dấy lên lo ngại về tính độc lập của Fed và làm giảm sức hấp dẫn của đồng USD như một tài sản trú ẩn an toàn. Cùng lúc, thị trường lao động Mỹ phát đi tín hiệu u ám khi chỉ tạo thêm 22.000 việc làm mới trong tháng 8, chưa bằng một phần ba so với dự báo của Dow Jones, càng khoét sâu nỗi lo suy yếu tăng trưởng.

Tính đến ngày 16/9, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,24 điểm, giảm gần 9% kể từ đầu năm và thấp nhất trong vòng 3,5 năm qua.

Tại thị trường trong nước, tỷ giá USD có phần dịu nhiệt. Ngày 16/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm là 25.208 VND/USD, giảm 8 đồng so với ngày 15/9 và lùi 90 đồng so với đỉnh ngày 22/8.

Tỷ giá “chợ đen” lao dốc, xuống 26.440 - 26.540 VND/USD, mất 410 đồng so với cuối tuần trước và thấp hơn 475 đồng so với đỉnh bán ra 27.015 VND/USD ngày 11/9.

Dù vậy, áp lực tăng giá USD từ đầu năm đến nay vẫn hiện hữu khi tỷ giá trung tâm tăng thêm 873 đồng (tăng 3,6%), vượt xa mức tăng 469 đồng cả năm 2024.

Trên thị trường tự do, tỷ giá “chợ đen” cũng tăng 600 đồng cả hai chiều, tương ứng tăng 2,3% từ đầu năm, song thấp hơn mức tăng 1.080 đồng cả năm 2024.

Trong khi đồng bạc xanh suy yếu, nhiều ngoại tệ chủ chốt lại bứt phá trên bảng niêm yết ngân hàng khi tỷ giá EUR/VND tăng tới 16%, còn GBP/VND tăng 12% so với đầu năm.

Đánh giá về áp lực lên VND, trong báo cáo cập nhật mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, đồng tiền của Việt Nam bị mất giá ngay cả khi USD đang yếu đi với chỉ số DXY giảm đáng kể từ đầu năm, trong khi các đồng tiền khác của khu vực châu Á lại tăng giá.

Đơn cử, tính đến nửa đầu năm 2025, đồng tiền của Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng giá lần lượt 5,6%; 6% và 6% kể từ đầu năm so với USD. "VND bị mất giá có lẽ do các vấn đề trong nước, bao gồm số trả nợ có mệnh giá bằng USD tăng mạnh đối với cả Chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân" - chuyên gia WB nhận định.

Vì vậy, tỷ giá trung tâm được nâng lên, kéo biên độ +/-5% cao hơn, tạo dư địa cho thị trường điều chỉnh. Ngoài ra, theo WB, Ngân hàng Nhà nước còn rút 1 tỷ USD dự trữ, làm giảm dự trữ ngoại hối còn 78,1 tỷ USD trong tháng 3/2025, tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu. Gần đây nhất, nhiều thống kê cho thấy, ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD, nhằm hạ nhiệt thị trường.

Chia sẻ gần đây, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, áp lực tỷ giá thời gian qua đến từ 3 yếu tố. Đó là chênh lệch lãi suất VND - USD, tái cấu trúc vốn của khu vực doanh nghiệp và Chính phủ, cùng tâm lý găm giữ được kích hoạt bởi thị trường vàng và kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá bớt căng thẳng khi xuất hiện một số điểm sáng.

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, kỳ vọng cung USD cải thiện

Nhận định về triển vọng tỷ giá sắp tới, WB kỳ vọng lãi suất quốc tế khi được các nước cắt giảm sẽ thu hẹp chênh lệch lãi suất và giảm áp lực tỷ giá USD/VND.

Trong báo cáo đầu tư mới công bố, bà Phan Thị Thanh Huyền - chuyên viên phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) cũng kỳ vọng, áp lực tỷ giá sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Bên cạnh đó, những tiến triển trong việc hoàn tất thỏa thuận thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch chính sách, cải thiện tâm lý nhà đầu tư về triển vọng thương mại và kinh tế.

"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa. Ảnh tư liệu.

Đánh giá tác động khi Fed dự kiến hạ lãi suất, ông Trần Ngọc Báu cho rằng, chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ đã âm từ quý II/2023, song 3 tháng gần đây, mức chênh lệch này dần giảm bớt ở thị trường 1 (huy động vốn từ người dân và tổ chức), dù lãi suất của Mỹ vẫn duy trì cao. Cùng với đó, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đang giảm, Việt Nam thì tăng, giúp thu hẹp khoảng cách.

Khoảng chênh lệch dần thu hẹp,
kỳ vọng cân bằng trong năm tới

"Lãi suất tại Mỹ nhiều khả năng sẽ giảm chậm, không nhất thiết Fed phải giảm nhanh. Thị trường trái phiếu Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều ẩn số, nên lợi suất trái phiếu (bond yield) và lãi suất huy động Mỹ có khả năng giảm chậm. Có thể mất 1 năm nữa mới đưa khoảng chênh lệch này về 0, điều này có nghĩa, áp lực từ việc dịch chuyển dòng vốn vẫn còn trong năm tới" - ông Trần Ngọc Báu đánh giá.

Bên cạnh đó, hiện nhiều doanh nghiệp và cả Chính phủ đều muốn trả nợ USD, vay VND để giảm rủi ro tỷ giá và chi phí vốn. Do đó, áp lực tỷ giá vẫn còn trong khoảng 1 năm tới, song bớt căng thẳng hơn 2 - 3 năm qua.

Theo vị chuyên gia này, khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, đi kèm với tín dụng và cung tiền được thúc đẩy, đồng nội tệ chắc chắn chịu áp lực. Năm nay, mức mất giá của VND đến nay vào khoảng 3,7 - 3,8%, vẫn còn “room” điều hành 1 - 2% nữa.

"Áp lực thời gian tới với nhà điều hành vẫn còn, ít nhất trong cả năm nữa, trước khi 3 yếu tố chính tác động đến tỷ giá mới được giải tỏa dần" - ông Báu nhìn nhận.

Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho rằng, tỷ giá cũng mang lại một điểm tích cực cho doanh nghiệp xuất khẩu. Trong bối cảnh phải gánh nặng thuế quan do chính quyền Trump áp đặt, việc VND mất giá phần nào bù đắp được tổn thất.

"Tất nhiên, với nền kinh tế mở như Việt Nam, cũng không muốn tỷ giá tăng quá nhiều, ngoài tầm kiểm soát" - ông Linh nhận định.

Về triển vọng tỷ giá thời gian tới, theo chuyên gia VCBS, có thể thấy một số yếu tố gây áp lực đã suy giảm. Theo đó, thặng dư thương mại hàng hóa tuy thấp trong nửa đầu năm, nhưng cải thiện liên tục 3 tháng gần đây, mở ra kỳ vọng nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn trong những tháng cuối năm.

Cùng với đó, áp lực từ tình trạng găm giữ USD, kéo dài từ năm 2022 do chênh lệch lãi suất Việt Nam - Mỹ, cũng được dự báo giảm khi Fed bước vào chu kỳ hạ lãi suất. Bên cạnh đó, việc ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cho phép tư nhân nhập khẩu vàng kỳ vọng sẽ thu hẹp chênh lệch giá trong - ngoài nước, qua đó, giảm đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và góp phần hạ nhiệt áp lực tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 9 đồng lên 25.626 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do đi xuống; còn chỉ số DXY tăng 0,06% lên 99,7 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed tăng lãi suất tuần này. Theo BNP Paribas (Pháp), lãi suất toàn cầu đang đi ba hướng, với 25 trong gần 90 ngân hàng trung ương được theo dõi đã tăng lãi suất từ đầu năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17922 18196 18772
CAD 17922 18197 18814
CHF 30980 31358 31999
CNY 0 3833 3929
EUR 29078 29298 30375
GBP 33815 34204 35135
HKD 0 3182 3384
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14511 15098
SGD 19824 20106 20682
THB 698 761 814
USD (1,2) 25724 0 0
USD (5,10,20) 25763 0 0
USD (50,100) 25791 25805 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,168 29,191 30,576
JPY 160.55 160.84 170.56
GBP 34,045 34,137 35,320
AUD 18,142 18,208 18,899
CAD 18,133 18,191 18,864
CHF 31,283 31,380 32,315
SGD 19,970 20,032 20,820
CNY - 3,807 3,952
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.73 18.49 20.11
THB 747.44 756.67 809.94
NZD 14,523 14,658 15,092
SEK - 2,595 2,688
DKK - 3,912 4,050
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,972.65 - 6,741.38
TWD 741.22 - 898.01
SAR - 6,810 7,173.33
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,226 29,343 30,542
GBP 34,081 34,218 35,242
HKD 3,249 3,262 3,380
CHF 31,163 31,288 32,234
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,171 18,244 18,837
SGD 20,049 20,130 20,721
THB 765 768 806
CAD 18,162 18,235 18,824
NZD 14,629 15,171
KRW 18.41 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25825 25825 26185
AUD 18119 18219 19144
CAD 18117 18217 19229
CHF 31248 31278 32859
CNY 3819 3844 3979.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29282 29312 31037
GBP 34141 34191 35952
HKD 0 3315 0
JPY 161.46 161.96 172.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14633 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 20002 20132 20853
THB 0 728 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30