"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

(TBTCO) - Tỷ giá USD “chợ đen” lao dốc 410 đồng so với cuối tuần trước, trong khi kênh chính thức cũng hạ nhiệt phần nào, dù áp lực vẫn hiện hữu. Kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất, thặng dư thương mại cải thiện và nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn giúp tỷ giá USD/VND bớt căng thẳng.
aa

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Theo công cụ CME Fedwatch, thị trường đang đặt cược 90% khả năng Fed giảm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp ngày 16 - 17/9, đưa lãi suất điều hành về mức 4 - 4,25%/năm. Đây sẽ là lần giảm đầu tiên trong năm, đánh dấu bước ngoặt chính sách sau thời gian dài duy trì mặt bằng cao. Trong khi đó, Ngân hàng Standard Chartered kỳ vọng Fed giảm lãi suất mạnh hơn, tới 50 điểm cơ bản.

USD trượt dốc dưới kỳ vọng Fed giảm lãi suất

Tâm lý thị trường chịu nhiều tác động từ mối quan hệ căng thẳng giữa Tổng thống Trump và Fed, làm dấy lên lo ngại về tính độc lập của Fed và làm giảm sức hấp dẫn của đồng USD như một tài sản trú ẩn an toàn. Cùng lúc, thị trường lao động Mỹ phát đi tín hiệu u ám khi chỉ tạo thêm 22.000 việc làm mới trong tháng 8, chưa bằng một phần ba so với dự báo của Dow Jones, càng khoét sâu nỗi lo suy yếu tăng trưởng.

Tính đến ngày 16/9, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, lùi về 97,24 điểm, giảm gần 9% kể từ đầu năm và thấp nhất trong vòng 3,5 năm qua.

Tại thị trường trong nước, tỷ giá USD có phần dịu nhiệt. Ngày 16/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm là 25.208 VND/USD, giảm 8 đồng so với ngày 15/9 và lùi 90 đồng so với đỉnh ngày 22/8.

Tỷ giá “chợ đen” lao dốc, xuống 26.440 - 26.540 VND/USD, mất 410 đồng so với cuối tuần trước và thấp hơn 475 đồng so với đỉnh bán ra 27.015 VND/USD ngày 11/9.

Dù vậy, áp lực tăng giá USD từ đầu năm đến nay vẫn hiện hữu khi tỷ giá trung tâm tăng thêm 873 đồng (tăng 3,6%), vượt xa mức tăng 469 đồng cả năm 2024.

Trên thị trường tự do, tỷ giá “chợ đen” cũng tăng 600 đồng cả hai chiều, tương ứng tăng 2,3% từ đầu năm, song thấp hơn mức tăng 1.080 đồng cả năm 2024.

Trong khi đồng bạc xanh suy yếu, nhiều ngoại tệ chủ chốt lại bứt phá trên bảng niêm yết ngân hàng khi tỷ giá EUR/VND tăng tới 16%, còn GBP/VND tăng 12% so với đầu năm.

Đánh giá về áp lực lên VND, trong báo cáo cập nhật mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, đồng tiền của Việt Nam bị mất giá ngay cả khi USD đang yếu đi với chỉ số DXY giảm đáng kể từ đầu năm, trong khi các đồng tiền khác của khu vực châu Á lại tăng giá.

Đơn cử, tính đến nửa đầu năm 2025, đồng tiền của Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản tăng giá lần lượt 5,6%; 6% và 6% kể từ đầu năm so với USD. "VND bị mất giá có lẽ do các vấn đề trong nước, bao gồm số trả nợ có mệnh giá bằng USD tăng mạnh đối với cả Chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân" - chuyên gia WB nhận định.

Vì vậy, tỷ giá trung tâm được nâng lên, kéo biên độ +/-5% cao hơn, tạo dư địa cho thị trường điều chỉnh. Ngoài ra, theo WB, Ngân hàng Nhà nước còn rút 1 tỷ USD dự trữ, làm giảm dự trữ ngoại hối còn 78,1 tỷ USD trong tháng 3/2025, tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu. Gần đây nhất, nhiều thống kê cho thấy, ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước bán khoảng 1,5 tỷ USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD, nhằm hạ nhiệt thị trường.

Chia sẻ gần đây, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, áp lực tỷ giá thời gian qua đến từ 3 yếu tố. Đó là chênh lệch lãi suất VND - USD, tái cấu trúc vốn của khu vực doanh nghiệp và Chính phủ, cùng tâm lý găm giữ được kích hoạt bởi thị trường vàng và kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá bớt căng thẳng khi xuất hiện một số điểm sáng.

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, kỳ vọng cung USD cải thiện

Nhận định về triển vọng tỷ giá sắp tới, WB kỳ vọng lãi suất quốc tế khi được các nước cắt giảm sẽ thu hẹp chênh lệch lãi suất và giảm áp lực tỷ giá USD/VND.

Trong báo cáo đầu tư mới công bố, bà Phan Thị Thanh Huyền - chuyên viên phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) cũng kỳ vọng, áp lực tỷ giá sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Bên cạnh đó, những tiến triển trong việc hoàn tất thỏa thuận thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch chính sách, cải thiện tâm lý nhà đầu tư về triển vọng thương mại và kinh tế.

"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa. Ảnh tư liệu.

Đánh giá tác động khi Fed dự kiến hạ lãi suất, ông Trần Ngọc Báu cho rằng, chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ đã âm từ quý II/2023, song 3 tháng gần đây, mức chênh lệch này dần giảm bớt ở thị trường 1 (huy động vốn từ người dân và tổ chức), dù lãi suất của Mỹ vẫn duy trì cao. Cùng với đó, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đang giảm, Việt Nam thì tăng, giúp thu hẹp khoảng cách.

Khoảng chênh lệch dần thu hẹp,
kỳ vọng cân bằng trong năm tới

"Lãi suất tại Mỹ nhiều khả năng sẽ giảm chậm, không nhất thiết Fed phải giảm nhanh. Thị trường trái phiếu Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều ẩn số, nên lợi suất trái phiếu (bond yield) và lãi suất huy động Mỹ có khả năng giảm chậm. Có thể mất 1 năm nữa mới đưa khoảng chênh lệch này về 0, điều này có nghĩa, áp lực từ việc dịch chuyển dòng vốn vẫn còn trong năm tới" - ông Trần Ngọc Báu đánh giá.

Bên cạnh đó, hiện nhiều doanh nghiệp và cả Chính phủ đều muốn trả nợ USD, vay VND để giảm rủi ro tỷ giá và chi phí vốn. Do đó, áp lực tỷ giá vẫn còn trong khoảng 1 năm tới, song bớt căng thẳng hơn 2 - 3 năm qua.

Theo vị chuyên gia này, khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, đi kèm với tín dụng và cung tiền được thúc đẩy, đồng nội tệ chắc chắn chịu áp lực. Năm nay, mức mất giá của VND đến nay vào khoảng 3,7 - 3,8%, vẫn còn “room” điều hành 1 - 2% nữa.

"Áp lực thời gian tới với nhà điều hành vẫn còn, ít nhất trong cả năm nữa, trước khi 3 yếu tố chính tác động đến tỷ giá mới được giải tỏa dần" - ông Báu nhìn nhận.

Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho rằng, tỷ giá cũng mang lại một điểm tích cực cho doanh nghiệp xuất khẩu. Trong bối cảnh phải gánh nặng thuế quan do chính quyền Trump áp đặt, việc VND mất giá phần nào bù đắp được tổn thất.

"Tất nhiên, với nền kinh tế mở như Việt Nam, cũng không muốn tỷ giá tăng quá nhiều, ngoài tầm kiểm soát" - ông Linh nhận định.

Về triển vọng tỷ giá thời gian tới, theo chuyên gia VCBS, có thể thấy một số yếu tố gây áp lực đã suy giảm. Theo đó, thặng dư thương mại hàng hóa tuy thấp trong nửa đầu năm, nhưng cải thiện liên tục 3 tháng gần đây, mở ra kỳ vọng nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn trong những tháng cuối năm.

Cùng với đó, áp lực từ tình trạng găm giữ USD, kéo dài từ năm 2022 do chênh lệch lãi suất Việt Nam - Mỹ, cũng được dự báo giảm khi Fed bước vào chu kỳ hạ lãi suất. Bên cạnh đó, việc ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cho phép tư nhân nhập khẩu vàng kỳ vọng sẽ thu hẹp chênh lệch giá trong - ngoài nước, qua đó, giảm đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và góp phần hạ nhiệt áp lực tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/11, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng, xuống 25.623 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, chỉ số DXY mất 0,25% còn 101,29 điểm, sát mốc 101 điểm. Đồng bạc xanh có lúc chạm đáy 5 tuần sau chiến thắng bất ngờ của đảng Dân chủ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, trong khi giá dầu WTI lùi sát 87 USD/thùng.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 2/11, tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng, xuống 25.631 đồng; giá bán USD tại nhiều ngân hàng cùng dưới ngưỡng 26.000 VND/USD. Chỉ số DXY nhích 0,04%, lên 101,93 điểm. Thị trường thận trọng trước cuộc bầu cử giữa kỳ Mỹ ngày 3/11, cùng tín hiệu tích cực từ nỗ lực ngoại giao tại Trung Đông phần nào làm suy yếu nhu cầu nắm giữ USD.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tuần qua, từ ngày 26 - 30/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước "đảo chiều" bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng qua kênh OMO, khi lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng sát 5%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD phân hóa sau quyết định lãi suất 5 ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,300 140,300
Hà Nội - PNJ 136,300 140,300
Đà Nẵng - PNJ 136,300 140,300
Miền Tây - PNJ 136,300 140,300
Tây Nguyên - PNJ 136,300 140,300
Đông Nam Bộ - PNJ 136,300 140,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,800 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,800 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,650 14,050
Trang sức 99.9 13,330 13,930
Trang sức 99.99 13,340 13,940
Vàng 99.9 12,750
Vàng 99.99 12,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cập nhật: 08/11/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17027 17297 17886
CAD 17575 17848 18467
CHF 30535 30911 31550
CNY 0 3789 3885
EUR 27881 28096 29178
GBP 33351 33739 34676
HKD 0 3132 3335
JPY 154 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 13876 14463
SGD 19398 19678 20258
THB 678 741 794
USD (1,2) 25323 0 0
USD (5,10,20) 25359 0 0
USD (50,100) 25387 25400 25770
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,395 25,395 25,775
USD(1-2-5) 24,380 - -
USD(10-20) 24,380 - -
EUR 28,083 28,105 29,445
JPY 157.64 157.92 167.53
GBP 33,746 33,837 35,010
AUD 17,327 17,390 18,054
CAD 17,881 17,938 18,605
CHF 30,914 31,010 31,939
SGD 19,568 19,629 20,406
CNY - 3,762 3,907
HKD 3,198 3,208 3,344
KRW 17.35 18.09 19.69
THB 728.06 737.05 789.6
NZD 13,928 14,057 14,475
SEK - 2,556 2,648
DKK - 3,767 3,901
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,889.42 - 6,649.1
TWD 700.88 - 849.32
SAR - 6,698.34 7,058.04
KWD - 80,861 86,063
AED - 6,713 7,235
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,370 25,400 25,780
EUR 28,050 28,191 29,414
GBP 33,715 33,884 34,916
HKD 3,192 3,211 3,329
CHF 30,744 30,898 31,843
JPY 157.26 158.85 166.81
AUD 17,268 17,390 17,982
SGD 19,541 19,718 20,312
THB 732 747 785
CAD 17,838 17,964 18,556
NZD 13,987 14,538
KRW 18.20 20.18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25400 25400 25760
AUD 17229 17329 18259
CAD 17828 17928 18945
CHF 30857 30887 32469
CNY 3774.9 3799.9 3935
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28138 28168 29893
GBP 33747 33797 35554
HKD 0 3300 0
JPY 158.07 158.57 169.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 13981 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19587 19717 20439
THB 0 707.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,270 25,390 25,750
USD20 25,240 25,390 25,750
USD1 24,335 25,390 26,895
AUD 17,120 17,318 18,510
EUR 27,850 28,003 29,703
CAD 17,705 17,855 19,186
SGD 19,600 19,800 20,384
JPY 157.95 159.95 165.75
GBP 33,565 33,765 34,889
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,751 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/11/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30