Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
aa

Quy mô tài chính mở rộng mạnh mẽ

Gia nhập thị trường từ năm 1994 với quy mô nhỏ, SeABank từng bước nâng cao năng lực tài chính và mở rộng hoạt động. Từ 3 tỷ đồng ban đầu, vốn điều lệ của Ngân hàng tăng lên 50 tỷ đồng vào năm 2001, trước khi đạt 4.068 tỷ đồng vào năm 2008. Đây được xem là giai đoạn tăng tốc quan trọng, thể hiện bước chuyển trong chiến lược củng cố nền tảng tài chính và mở rộng quy mô hoạt động của SeABank.

Trong các năm tiếp theo, vốn điều lệ của Ngân hàng tiếp tục tăng trưởng đáng kể, từ 5.466 tỷ đồng năm 2015 lên 9.369 tỷ đồng năm 2019 và có sự bứt phá rõ rệt giai đoạn 2020 - 2025 khi vốn điều lệ tăng từ 14.785 tỷ đồng lên 28.450 tỷ đồng. Việc gia tăng mạnh quy mô vốn trong thời gian ngắn cho thấy định hướng đẩy nhanh mở rộng hoạt động, thêm nguồn vốn để đầu tư công nghệ cũng như đáp ứng nhu cầu của khách hàng, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng yêu cầu cao về năng lực vốn.

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm
SeABank không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính đa dạng của khách hàng

Song song với quá trình tăng vốn điều lệ, tổng tài sản của SeABank cũng duy trì xu hướng gia tăng nhanh chóng qua các năm. Ở giai đoạn đầu, tổng tài sản tăng nhanh từ 6.124 tỷ đồng năm 2005 lên 26.241 tỷ đồng năm 2007 và đạt 55.242 tỷ đồng vào năm 2010.

Đặc biệt, từ năm 2020 trở lại đây, quy mô tổng tài sản SeABank có tốc độ tăng nhanh hơn, từ 84.757 tỷ đồng năm 2015 đã tăng gấp hơn 4,6 lần, tương đương 367,7% lên tới 396.443 tỷ đồng vào năm 2025, tương đương tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) duy trì ở mức trung bình khoảng 16,7%.

Việc tổng tài sản tăng trưởng gấp hơn 4,6 lần trong một thập kỷ, trong khi vẫn kiểm soát tốt tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, là minh chứng cho một chiến lược phát triển bùng nổ nhưng vô cùng bền vững của SeABank. Điều này không chỉ khẳng định vị thế và quy mô Ngân hàng đã tiến lên một tầm cao mới nhờ năng lực chiếm lĩnh thị phần và uy tín thương hiệu mạnh mẽ, mà còn cho thấy một hệ thống quản trị rủi ro cực kỳ hiệu quả. Ngân hàng đã đạt được “mục tiêu kép”: vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh, vừa duy trì được chất lượng tài sản lành mạnh và an toàn theo chuẩn mực quốc tế.

Sự gia tăng mạnh cả vốn điều lệ và tổng tài sản cho thấy định hướng mở rộng quy mô được triển khai nhất quán của SeABank. Đây không chỉ là quá trình gia tăng nguồn lực tài chính mà còn phản ánh chiến lược chủ động của Ngân hàng trong việc tận dụng cơ hội thị trường, tạo thêm dư địa tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tăng trưởng gắn với hiệu quả và đóng góp ngân sách

Với nguồn vốn dồi dào và sự mở rộng về quy mô đã tạo nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của SeABank, thể hiện qua mức đóng góp vào ngân sách nhà nước ở từng năm theo chiều hướng tăng trưởng tích cực và bền vững, đặc biệt là trong giai đoạn 2020-2025.

Từ mức vài chục tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn đầu, số tiền nộp ngân sách nhà nước của SeABank đã liên tục được nâng lên theo từng năm và vượt mốc 1.000 tỷ đồng vào năm 2022. Đến năm 2025, số tiền nộp thuế là hơn 1.515 tỷ đồng.

Trong vòng 5 năm qua, SeABank đã đóng góp gần 5.300 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước và luôn tuân thủ đầy đủ các quy định về nghĩa vụ thuế. Diễn biến này cho thấy, bước nhảy vọt trong đóng góp ngân sách quốc gia của SeABank, từ quy mô vài chục tỷ đồng lên mức nghìn tỷ chỉ sau một thập kỷ, phản ánh rõ nét hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính ngày càng được củng cố.

Theo đại diện Lãnh đạo SeABank, kết quả này là minh chứng cho định hướng xuyên suốt trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, trong đó tập trung gắn tăng trưởng quy mô với hiệu quả và tuân thủ. Việc thực hiện đầy đủ, minh bạch nghĩa vụ tài chính với Nhà nước được xác định là một trong những ưu tiên trọng tâm, đồng thời là thước đo quan trọng cho chất lượng hoạt động của Ngân hàng.

“Chúng tôi xác định tăng trưởng quy mô phải đi đôi với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh mà còn khẳng định định hướng phát triển bền vững, tuân thủ pháp luật mà SeABank kiên định theo đuổi trong suốt quá trình hoạt động. Bên cạnh việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, SeABank còn tích cực đóng góp cho cộng đồng với tổng số tiền cho an sinh xã hội hơn 250 tỷ đồng trong những năm qua”, đại diện SeABank nhấn mạnh.

Với những đóng góp đáng kể cho nguồn thu của ngân sách Nhà nước, SeABank đã liên tục được ghi nhận trong nhiều bảng xếp hạng uy tín, phản ánh năng lực vận hành và hiệu quả hoạt động trong hệ thống ngân hàng. Trong đó, có thể kể đến: nhiều năm liên tục xếp thứ hạng cao trong TOP 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập nhiều nhất do Bộ Tài chính công bố, Bằng khen của Bộ Tài chính về “Thực hiện tốt chính sách, pháp luật thuế”, Top 30 - 50 doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam và Top 20 Ngân hàng nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2024 do CafeF công bố, nhiều năm được vinh danh trong Top 500 Doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất Việt Nam và Top 500 Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Vietnam Report công bố./.

Hồng Vân

Đọc thêm

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▲500K 143,700 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 14,380
Miếng SJC Nghệ An 14,080 14,380
Miếng SJC Thái Bình 14,080 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 ▲20K 14,450 ▲70K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,760 ▲70K 14,360 ▲70K
Trang sức 99.99 13,770 ▲70K 14,370 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,408 ▲3K 14,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,408 ▲3K 14,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,403 ▲1263K 1,433 ▲1290K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,403 ▲1263K 1,434 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 ▲1236K 1,418 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 ▲297K 140,396 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 ▲225K 106,511 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 ▲78126K 96,584 ▲86946K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 ▲183K 86,657 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 ▲175K 82,828 ▲175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 ▲126K 59,287 ▲126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲3K 1,438 ▲3K
Cập nhật: 12/08/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17895 18170 18751
CAD 18220 18496 19113
CHF 31515 31895 32538
CNY 0 3830 3940
EUR 29502 29723 30799
GBP 34475 34867 35805
HKD 0 3199 3401
JPY 157 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15019 15601
SGD 19856 20138 20715
THB 705 768 821
USD (1,2) 25862 0 0
USD (5,10,20) 25902 0 0
USD (50,100) 25930 25944 26310
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,553 29,577 30,978
JPY 159.49 159.78 169.42
GBP 34,654 34,748 35,942
AUD 18,110 18,175 18,868
CAD 18,410 18,469 19,152
CHF 31,791 31,890 32,835
SGD 19,983 20,045 20,831
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 751.3 760.58 814.32
NZD 15,014 15,153 15,604
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,705 2,801
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 732.39 - 886.69
SAR - 6,837.9 7,206.7
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,940 26,320
EUR 29,593 29,712 30,904
GBP 34,665 34,804 35,836
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,652 31,779 32,703
JPY 159.96 160.60 168.48
AUD 18,110 18,183 18,779
SGD 20,057 20,138 20,733
THB 768 771 807
CAD 18,426 18,500 19,090
NZD 15,106 15,651
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25950 25950 26310
AUD 18095 18195 19118
CAD 18409 18509 19525
CHF 31792 31822 33404
CNY 3813.1 3838.1 3973.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29699 29729 31454
GBP 34791 34841 36594
HKD 0 3355 0
JPY 160.4 160.9 171.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15136 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20023 20153 20874
THB 0 733.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14080000 14080000 14380000
SBJ 12500000 12500000 14380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,950 26,000 26,320
USD20 25,900 26,000 26,765
USD1 24,263 26,000 26,815
AUD 18,141 18,241 19,365
EUR 29,485 29,585 31,263
CAD 18,354 18,454 19,771
SGD 20,097 20,247 20,816
JPY 160.91 162.41 168.07
GBP 34,672 34,822 36,157
XAU 14,248,000 0 14,552,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/08/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80