Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
aa

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, theo hướng nới lỏng một số tỷ lệ an toàn đối với các ngân hàng thương mại. Theo đó, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%. Đồng thời, Thống đốc NHNN được quyết định tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) theo từng thời kỳ.

Theo đánh giá của các công ty chứng khoán, những điều chỉnh này sẽ giúp tăng tính linh hoạt cho hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và đầu tư quy mô lớn ngày càng gia tăng.

Nhóm phân tích của Vietcap cho rằng việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ giúp các ngân hàng giảm áp lực huy động nguồn vốn dài hạn có chi phí cao, qua đó mở rộng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng và dự án BT. Thay đổi này cũng được kỳ vọng hỗ trợ biên lãi ròng (NIM) của toàn ngành ngân hàng.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Nới tỷ lệ an toàn, ngân hàng có thêm dư địa cấp vốn cho hạ tầng. Ảnh: Đức Thanh.

Theo Vietcap, các ngân hàng có tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tiệm cận mức trần cũ như Techcombank, VPBank và MB sẽ hưởng lợi rõ nét hơn. Trong khi đó, Vietcombank, BIDV và VietinBank cũng có thêm điều kiện đẩy nhanh giải ngân các khoản vay trung và dài hạn đối với lĩnh vực hạ tầng.

Đối với quy định liên quan đến tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, Vietcap nhận định việc trao quyền chủ động cho NHNN trong xác định tỷ lệ được tính vào công thức LDR sẽ giúp cơ quan điều hành linh hoạt hơn trong hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Theo ước tính, mỗi 10% thay đổi trong tỷ lệ này có thể làm thay đổi từ 0,6 - 0,8 điểm phần trăm tỷ lệ LDR của Vietcombank, BIDV và VietinBank.

Nhìn chung, Vietcap đánh giá các thay đổi trên sẽ góp phần giảm áp lực chi phí vốn của các ngân hàng, hỗ trợ mặt bằng lãi suất cho vay và phản ánh định hướng điều hành linh hoạt của NHNN trong việc cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Dù có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, đây được xem là bước đi phù hợp nhằm tối ưu hóa nguồn lực cho chiến lược phát triển hạ tầng của Chính phủ.

Ở góc độ khác, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng việc nới lỏng các tỷ lệ thanh khoản sẽ giúp giảm áp lực huy động vốn và tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định hơn trong thời gian tới. Theo ACBS, dù phần lớn ngân hàng hiện vẫn đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ an toàn, nhiều tổ chức tín dụng vẫn phải sử dụng các kênh huy động có chi phí cao như thị trường liên ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu để duy trì thanh khoản.

Ông Cao Việt Hùng - Phụ trách Phân tích ngành Ngân hàng của ACBS nhận định việc giảm bớt yêu cầu về huy động vốn dài hạn sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa điều chỉnh lãi suất huy động, từ đó giảm chi phí vốn và hỗ trợ biên lợi nhuận. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để các ngân hàng tăng khả năng cung ứng tín dụng trung và dài hạn cho các lĩnh vực như bất động sản, hạ tầng, vận tải, đầu tư công và sản xuất.

Tuy nhiên, các chuyên gia từ ACBS lưu ý các giải pháp nới tỷ lệ thanh khoản chủ yếu mang tính hỗ trợ trong ngắn và trung hạn. Về dài hạn, áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn chịu tác động từ các yếu tố mang tính cấu trúc như tăng trưởng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế và tình trạng bội thu ngân sách. Do đó, việc nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công vẫn là những yếu tố quan trọng để cải thiện thanh khoản một cách bền vững.

Trong khi Vietcap và ACBS tập trung vào tác động đối với hoạt động ngân hàng, thanh khoản và khả năng cung ứng tín dụng, HSC cho rằng những thay đổi gần đây còn có ý nghĩa tích cực đối với thanh khoản của nền kinh tế và thị trường tài chính.

Ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường tại HSC cho biết Thông tư 25 là một trong những động thái đáng chú ý của NHNN nhằm cải thiện thanh khoản cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, cơ chế loại trừ các khoản vay dành cho dự án ưu tiên khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng cũng giúp hệ thống ngân hàng có thêm dư địa cấp vốn cho các dự án quy mô lớn mà không ảnh hưởng đến khả năng cho vay đối với các khách hàng khác.

Theo ông Dũng, các biện pháp điều hành gần đây được kỳ vọng sẽ hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống tài chính trong những tháng cuối năm. Trong bối cảnh cơ quan quản lý đang thúc đẩy dòng vốn vào các dự án hạ tầng và dự án chiến lược, triển vọng thanh khoản được đánh giá tích cực hơn, qua đó tạo nền tảng hỗ trợ cho hoạt động tín dụng, đầu tư công và thị trường tài chính.

Theo VCBS, việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% có thể giúp quy mô dư nợ trung dài hạn tối đa của hệ thống ngân hàng tăng thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng. Phần tín dụng bổ sung này được kỳ vọng tập trung vào các lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài như hạ tầng, đầu tư công, bất động sản và năng lượng. VCBS dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành có thể đạt khoảng 17% trong năm 2026.
Thu Hương

Đọc thêm

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30