Bức tranh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: Phí gốc bật tăng 11%, hoạt động tài chính kém sắc

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 11,38% phí bảo hiểm gốc khi có nhiều yếu tố hỗ trợ và doanh nghiệp tung loạt sản phẩm mới. Điểm sáng là lợi nhuận nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi tăng trưởng khả quan, trong khi lợi nhuận tài chính hầu hết doanh nghiệp đi lùi.
aa
Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng Bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh thu tăng 10,4%, thị trường khởi sắc

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ 6 tháng đầu năm 2025 đạt 43.518 tỷ đồng, tăng 11,38% so với cùng kỳ năm 2024.

Doanh nghiệp tung sản phẩm mới, phí bảo hiểm gốc tăng hai chữ số

Cũng theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là PVI chiếm thị phần 18,43% với doanh thu ước đạt 8.021 tỷ đồng, tăng 13,35% so với cùng kỳ năm 2024. Trong top 3, Bảo Việt đứng thứ hai, chiếm thị phần 12,22% với doanh thu ước đạt 5.317 tỷ đồng, tăng 6,76%; Bảo Minh chiếm thị phần 7,03% với doanh thu ước đạt 3.061 tỷ đồng, giảm 2,6%.

Thống kê của phóng viên trên dữ liệu 13 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chiếm hơn 80% thị phần toàn thị trường cho thấy, trong nửa đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ duy trì đà tăng trưởng, song phân hóa rõ rệt. Theo đó, phí bảo hiểm gốc toàn nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 35.515 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ; tuy nhiên, trong đó có tới 4/13 doanh nghiệp kéo giảm đà tăng trưởng.

Xếp sau top 3 doanh nghiệp dẫn đầu là nhóm 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có quy mô phí bảo hiểm gốc trên 2.000 - 3.000 tỷ đồng, bao gồm BIC với phí bảo hiểm gốc 2.680,5 tỷ đồng, giảm 3,5% cùng kỳ; MIC (2.632,1 tỷ đồng, tăng 2,2%); VBI (2.239,3 tỷ đồng, tăng 12,6%); PJICO (2.210,9 tỷ đồng, giảm 0,4%) và OPES (2.149 tỷ đồng, tăng 109,75%).

Trong nhóm ghi nhận phí bảo hiểm gốc dưới 2.000 tỷ đồng có các đơn vị như: PTI (1.950,1 tỷ đồng, giảm 6,1%); Bảo hiểm DBV (1.617,9 tỷ đồng, tăng 16,9%); BSH (1.607,2 tỷ đồng, tăng 9%)...

Bức tranh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: Phí gốc bật tăng 11%, hoạt động tài chính kém sắc
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Về tốc độ tăng trưởng, một số doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc trên 50% so với cùng kỳ năm 2024 được Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm điểm tên như: Tasco (647 tỷ đồng, tăng 346,4%), OPES (2.149 tỷ đồng, tăng 109,75%), SGI (45,5 tỷ đồng, tăng 129,88%).

Tận dụng sức bật khả quan của thị trường nửa đầu năm, lãnh đạo DBV cho biết, Tổng công ty tập trung phát triển những sản phẩm có tính thực tiễn cao, đáp ứng trực tiếp những rủi ro hiện hữu của khách hàng, từ gói bảo hiểm cho xe điện, bảo hiểm cháy nổ mở rộng, đến các chương trình chăm sóc sức khỏe linh hoạt.

Ông Ngô Hồng Khoa - Phó Tổng giám đốc DBV cho biết, tổng công ty tập trung nâng cao hiệu quả quản trị vận hành, phát triển sản phẩm khác biệt và nâng cao dịch vụ khách hàng để tạo sự khác biệt bền vững. Trong dài hạn, DBV đặt mục tiêu trở thành một trong những doanh nghiệp phi nhân thọ dẫn đầu thị trường về tính chuyên nghiệp, sự minh bạch trong giải quyết bồi thường và khả năng sáng tạo sản phẩm, góp phần thúc đẩy niềm tin vào thị trường bảo hiểm Việt Nam.

"DBV đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa quy trình bồi thường, gia tăng trải nghiệm minh bạch và thuận tiện cho khách hàng. Việc khai thác kênh phân phối mới thông qua hợp tác với ngân hàng, công ty tài chính, nền tảng số và insurtech sẽ giúp mở rộng độ phủ và tiếp cận đúng tệp khách hàng trẻ, am hiểu công nghệ" - Phó Tổng giám đốc DBV nêu rõ.

Còn OPES cũng ghi nhận mức tăng trưởng tổng doanh thu phí bảo hiểm nổi bật, tăng 113% cùng kỳ giúp hoàn thành 115% kế hoạch. Ông Nguyễn Hữu Tự Trí - Phó Tổng Giám đốc thường trực OPES cho biết, công ty duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ hệ sinh thái số mở rộng và sự gắn kết hiệu quả với hơn 30 đối tác đa dạng.

"Trong thời gian tới, OPES sẽ làm giàu thêm các danh mục sản phẩm bảo hiểm được thiết kế “đo ni đóng giày” theo từng đối tượng khách hàng, đáp ứng đa trải nghiệm sống của người Việt và đón đầu xu hướng của thị trường bảo hiểm số" - ông Trí cho biết.

Nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi phục hồi mạnh, lợi nhuận tài chính đi lùi

Đánh giá những yếu tố tạo nên bức tranh khả quan của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nửa đầu năm, trao đổi với phóng viên, ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính cho rằng, sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự tăng trưởng của GDP mức cao nhất trong nhiều năm, tạo cơ sở cho nhu cầu bảo hiểm.

Nhiều phân khúc chưa khai thác hết tiềm năng

"Dư địa phát triển thị trường còn lớn, khi nhiều phân khúc vẫn chưa khai thác hết tiềm năng như: bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc với xe máy, bảo hiểm nhà tư nhân hay bảo hiểm tai nạn cá nhân. Chúng ta có cơ sở để kỳ vọng tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới" - chuyên gia Trần Nguyên Đán nhìn nhận.

Cũng theo lãnh đạo DBV, bên cạnh nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn đang duy trì lợi thế dẫn đầu về mức độ tăng trưởng. Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cũng có sự tăng trưởng ấn tượng và đặc biệt quy định pháp lý mới như Nghị định 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 điều chỉnh phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc cũng tạo đà tăng trưởng cho nghiệp vụ này.

Song song, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn cá nhân tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh xu hướng người dân ngày càng chú trọng đến bảo vệ rủi ro y tế.

Bên cạnh những tín hiệu tích cực, thị trường phi nhân thọ cũng đứng trước nhiều thách thức. Cạnh tranh gay gắt khiến biên lợi nhuận kỹ thuật của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp, trong khi lợi suất đầu tư giảm do lãi suất thấp. Bên cạnh đó, yêu cầu tuân thủ pháp lý chặt chẽ hơn cũng tạo thêm áp lực vận hành, rủi ro thiên tai được dự báo nhiều hơn so với các năm trước…

Thống kê từ 13 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ niêm yết
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Điểm nhấn nửa đầu năm 2025 cũng đến từ sự phục hồi mạnh của nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi tại các doanh nghiệp như: Bảo Việt, Bảo hiểm DBV, PVI, BSH.... Đơn cử, BSH ghi nhận chuyển biến tích cực ở nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi khi đạt lãi gộp 53,9 tỷ đồng, đảo chiều từ mức âm cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp từ bảo hiểm của DBV bật tăng 61,2% cùng kỳ, góp phần lãi trước thuế tăng mạnh 32,4% cùng kỳ. Cùng với đó, PVI ghi nhận mức tăng 35,6%; MIC tăng 34,6%...

Ngược lại, nhiều doanh nghiệp sụt giảm nguồn thu từ hoạt động tài chính trong bối cảnh thị trường đầu tư kém thuận lợi. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính nhóm doanh nghiệp được khảo sát giảm 3,3%, trong đó, hầu hết các doanh nghiệp đều đi lùi. Dù vậy, mảng tài chính vẫn đóng góp quan trọng cho nhiều công ty khi lợi nhuận ở mảng này vượt xa kết quả từ nghiệp vụ bảo hiểm.

Lý giải lợi nhuận từ hoạt động tài chính sụt giảm, theo chuyên gia Trần Nguyên Đán, nguyên nhân đến từ mặt bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng và trái phiếu chính phủ đều sụt giảm - đây là kênh đầu tư an toàn chính của các công ty bảo hiểm, từ đó, khiến lợi nhuận tài chính của khối phi nhân thọ bị ảnh hưởng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 28/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 28/09/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30