Bức tranh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: Phí gốc bật tăng 11%, hoạt động tài chính kém sắc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nửa đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 11,38% phí bảo hiểm gốc khi có nhiều yếu tố hỗ trợ và doanh nghiệp tung loạt sản phẩm mới. Điểm sáng là lợi nhuận nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi tăng trưởng khả quan, trong khi lợi nhuận tài chính hầu hết doanh nghiệp đi lùi.
aa
Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng Bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh thu tăng 10,4%, thị trường khởi sắc

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ 6 tháng đầu năm 2025 đạt 43.518 tỷ đồng, tăng 11,38% so với cùng kỳ năm 2024.

Doanh nghiệp tung sản phẩm mới, phí bảo hiểm gốc tăng hai chữ số

Cũng theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là PVI chiếm thị phần 18,43% với doanh thu ước đạt 8.021 tỷ đồng, tăng 13,35% so với cùng kỳ năm 2024. Trong top 3, Bảo Việt đứng thứ hai, chiếm thị phần 12,22% với doanh thu ước đạt 5.317 tỷ đồng, tăng 6,76%; Bảo Minh chiếm thị phần 7,03% với doanh thu ước đạt 3.061 tỷ đồng, giảm 2,6%.

Thống kê của phóng viên trên dữ liệu 13 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chiếm hơn 80% thị phần toàn thị trường cho thấy, trong nửa đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ duy trì đà tăng trưởng, song phân hóa rõ rệt. Theo đó, phí bảo hiểm gốc toàn nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 35.515 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ; tuy nhiên, trong đó có tới 4/13 doanh nghiệp kéo giảm đà tăng trưởng.

Xếp sau top 3 doanh nghiệp dẫn đầu là nhóm 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có quy mô phí bảo hiểm gốc trên 2.000 - 3.000 tỷ đồng, bao gồm BIC với phí bảo hiểm gốc 2.680,5 tỷ đồng, giảm 3,5% cùng kỳ; MIC (2.632,1 tỷ đồng, tăng 2,2%); VBI (2.239,3 tỷ đồng, tăng 12,6%); PJICO (2.210,9 tỷ đồng, giảm 0,4%) và OPES (2.149 tỷ đồng, tăng 109,75%).

Trong nhóm ghi nhận phí bảo hiểm gốc dưới 2.000 tỷ đồng có các đơn vị như: PTI (1.950,1 tỷ đồng, giảm 6,1%); Bảo hiểm DBV (1.617,9 tỷ đồng, tăng 16,9%); BSH (1.607,2 tỷ đồng, tăng 9%)...

Bức tranh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ: Phí gốc bật tăng 11%, hoạt động tài chính kém sắc
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Về tốc độ tăng trưởng, một số doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc trên 50% so với cùng kỳ năm 2024 được Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm điểm tên như: Tasco (647 tỷ đồng, tăng 346,4%), OPES (2.149 tỷ đồng, tăng 109,75%), SGI (45,5 tỷ đồng, tăng 129,88%).

Tận dụng sức bật khả quan của thị trường nửa đầu năm, lãnh đạo DBV cho biết, Tổng công ty tập trung phát triển những sản phẩm có tính thực tiễn cao, đáp ứng trực tiếp những rủi ro hiện hữu của khách hàng, từ gói bảo hiểm cho xe điện, bảo hiểm cháy nổ mở rộng, đến các chương trình chăm sóc sức khỏe linh hoạt.

Ông Ngô Hồng Khoa - Phó Tổng giám đốc DBV cho biết, tổng công ty tập trung nâng cao hiệu quả quản trị vận hành, phát triển sản phẩm khác biệt và nâng cao dịch vụ khách hàng để tạo sự khác biệt bền vững. Trong dài hạn, DBV đặt mục tiêu trở thành một trong những doanh nghiệp phi nhân thọ dẫn đầu thị trường về tính chuyên nghiệp, sự minh bạch trong giải quyết bồi thường và khả năng sáng tạo sản phẩm, góp phần thúc đẩy niềm tin vào thị trường bảo hiểm Việt Nam.

"DBV đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa quy trình bồi thường, gia tăng trải nghiệm minh bạch và thuận tiện cho khách hàng. Việc khai thác kênh phân phối mới thông qua hợp tác với ngân hàng, công ty tài chính, nền tảng số và insurtech sẽ giúp mở rộng độ phủ và tiếp cận đúng tệp khách hàng trẻ, am hiểu công nghệ" - Phó Tổng giám đốc DBV nêu rõ.

Còn OPES cũng ghi nhận mức tăng trưởng tổng doanh thu phí bảo hiểm nổi bật, tăng 113% cùng kỳ giúp hoàn thành 115% kế hoạch. Ông Nguyễn Hữu Tự Trí - Phó Tổng Giám đốc thường trực OPES cho biết, công ty duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ hệ sinh thái số mở rộng và sự gắn kết hiệu quả với hơn 30 đối tác đa dạng.

"Trong thời gian tới, OPES sẽ làm giàu thêm các danh mục sản phẩm bảo hiểm được thiết kế “đo ni đóng giày” theo từng đối tượng khách hàng, đáp ứng đa trải nghiệm sống của người Việt và đón đầu xu hướng của thị trường bảo hiểm số" - ông Trí cho biết.

Nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi phục hồi mạnh, lợi nhuận tài chính đi lùi

Đánh giá những yếu tố tạo nên bức tranh khả quan của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nửa đầu năm, trao đổi với phóng viên, ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính cho rằng, sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự tăng trưởng của GDP mức cao nhất trong nhiều năm, tạo cơ sở cho nhu cầu bảo hiểm.

Nhiều phân khúc chưa khai thác hết tiềm năng

"Dư địa phát triển thị trường còn lớn, khi nhiều phân khúc vẫn chưa khai thác hết tiềm năng như: bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc với xe máy, bảo hiểm nhà tư nhân hay bảo hiểm tai nạn cá nhân. Chúng ta có cơ sở để kỳ vọng tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới" - chuyên gia Trần Nguyên Đán nhìn nhận.

Cũng theo lãnh đạo DBV, bên cạnh nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn đang duy trì lợi thế dẫn đầu về mức độ tăng trưởng. Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cũng có sự tăng trưởng ấn tượng và đặc biệt quy định pháp lý mới như Nghị định 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 điều chỉnh phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc cũng tạo đà tăng trưởng cho nghiệp vụ này.

Song song, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn cá nhân tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh xu hướng người dân ngày càng chú trọng đến bảo vệ rủi ro y tế.

Bên cạnh những tín hiệu tích cực, thị trường phi nhân thọ cũng đứng trước nhiều thách thức. Cạnh tranh gay gắt khiến biên lợi nhuận kỹ thuật của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp, trong khi lợi suất đầu tư giảm do lãi suất thấp. Bên cạnh đó, yêu cầu tuân thủ pháp lý chặt chẽ hơn cũng tạo thêm áp lực vận hành, rủi ro thiên tai được dự báo nhiều hơn so với các năm trước…

Thống kê từ 13 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ niêm yết
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Điểm nhấn nửa đầu năm 2025 cũng đến từ sự phục hồi mạnh của nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi tại các doanh nghiệp như: Bảo Việt, Bảo hiểm DBV, PVI, BSH.... Đơn cử, BSH ghi nhận chuyển biến tích cực ở nghiệp vụ bảo hiểm cốt lõi khi đạt lãi gộp 53,9 tỷ đồng, đảo chiều từ mức âm cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp từ bảo hiểm của DBV bật tăng 61,2% cùng kỳ, góp phần lãi trước thuế tăng mạnh 32,4% cùng kỳ. Cùng với đó, PVI ghi nhận mức tăng 35,6%; MIC tăng 34,6%...

Ngược lại, nhiều doanh nghiệp sụt giảm nguồn thu từ hoạt động tài chính trong bối cảnh thị trường đầu tư kém thuận lợi. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính nhóm doanh nghiệp được khảo sát giảm 3,3%, trong đó, hầu hết các doanh nghiệp đều đi lùi. Dù vậy, mảng tài chính vẫn đóng góp quan trọng cho nhiều công ty khi lợi nhuận ở mảng này vượt xa kết quả từ nghiệp vụ bảo hiểm.

Lý giải lợi nhuận từ hoạt động tài chính sụt giảm, theo chuyên gia Trần Nguyên Đán, nguyên nhân đến từ mặt bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng và trái phiếu chính phủ đều sụt giảm - đây là kênh đầu tư an toàn chính của các công ty bảo hiểm, từ đó, khiến lợi nhuận tài chính của khối phi nhân thọ bị ảnh hưởng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80