Bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh thu tăng 10,4%, thị trường khởi sắc

Hồng Chi
(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2025, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, với tổng doanh thu phí bảo hiểm ước tăng khoảng 10,43% so với cùng kỳ, thể hiện sự phục hồi của doanh nghiệp. Hiện nhiều giải pháp đã được các doanh nghiệp đưa ra kỳ vọng hoàn thành mục tiêu 2025.
aa
Bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh thu tăng 10,4%, thị trường khởi sắc
Năm 2025, Bảo hiểm BIC sẽ nâng vốn điều lệ lên 2.020 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu. Ảnh tư liệu

Tăng trưởng doanh thu tích cực

Theo báo cáo của cơ quan quản lý về bảo hiểm, tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 5 tháng đầu năm 2025 ước tăng khoảng 10,43% so với cùng kỳ năm trước.

Trước đó, trong 4 tháng đầu năm, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt khoảng 74.889 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng 11%. Riêng quý I/2025, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 22.014 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ.

Báo cáo số liệu từ các doanh nghiệp bảo hiểm cho thấy kết quả kinh doanh khá tích cực. Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, kết thúc quý I/2025, tổng doanh thu của công ty đạt 3.171 tỷ đồng, tăng trưởng 5,5%. Lợi nhuận sau thuế đạt 100 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 18,9% so với cùng kỳ năm 2024. Đồng thời, mở rộng tệp khách hàng trong và ngoài nước, nâng cao quy mô hoạt động.

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, trong quý I/2025, tổng doanh thu của Bảo hiểm PVI ước đạt 7.217 tỷ đồng, hoàn thành 120,7% kế hoạch quý I và 36,3% kế hoạch năm 2025, tăng trưởng 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận trước thuế ước đạt 288 tỷ đồng, hoàn thành 163,3% kế hoạch quý I/2025, phản ánh hiệu quả trong việc tăng trưởng doanh thu và kiểm soát rủi ro.

Cũng theo đại diện Bảo hiểm PVI, mảng tái bảo hiểm tiếp tục là điểm sáng, đạt doanh thu 2.174 tỷ đồng, tăng trưởng 54,5% so với cùng kỳ cho thấy định hướng mở rộng hợp tác quốc tế đang mang lại giá trị rõ rệt. Đồng thời, doanh thu kênh bán chéo qua các đối tác cũng ghi nhận sự phát triển vượt trội, đạt 291 tỷ đồng, cao gấp 1,8 lần so với cùng kỳ nhờ đẩy mạnh hợp tác với các đối tác lớn. Các hoạt động đầu tư tài chính tiếp tục mang lại dòng tiền ổn định, đảm bảo khả năng thanh toán và gia tăng lợi nhuận.

Đại diện Bảo hiểm MIC cho biết, quý I/2025 ghi dấu một khởi đầu tích cực khi doanh nghiệp báo lãi sau thuế 100 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng ấn tượng này đến từ sự cải thiện đồng đều cả về doanh thu lẫn hiệu quả kiểm soát chi phí. Cụ thể, doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 992 tỷ đồng, tăng 16% so với quý I/2024. Trong đó, tổng doanh thu phí bảo hiểm vượt mốc 1.300 tỷ đồng, tăng 18%. Tính đến ngày 31/3/2025, tổng tài sản của MIC đạt 10.209 tỷ đồng, tăng so với mức 9.834 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

Đại diện Bảo hiểm ABIC cho biết, quý I/2025, công ty này ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 101,1 tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 32% kế hoạch cả năm. Doanh thu phí bảo hiểm ghi nhận 620,3 tỷ đồng, trong đó phí bảo hiểm gốc tăng 15,7% lên 582 tỷ đồng; riêng mảng nhận tái bảo hiểm có mức tăng trưởng tới 130%, đạt 36,8 tỷ đồng.

Bảo hiểm ABIC dự kiến tăng vốn từ mức hơn 723,9 tỷ đồng hiện tại lên gần 1.015,5 tỷ đồng. Việc tăng vốn này sẽ được thực hiện thông qua hai hình thức: phát hành cổ phiếu để trả cổ tức năm 2024 và phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu.

Kỳ vọng hoàn thành mục tiêu đề ra

Chia sẻ về định hướng phát triển trong năm 2025, đại diện Bảo hiểm ABIC cho biết, công ty đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2025 là 315 tỷ đồng - tăng 23% so với 2024 và cao hơn 39% so với kế hoạch năm ngoái. Doanh thu kinh doanh bảo hiểm của ABIC dự kiến đạt 2.650 tỷ đồng, tăng gần 9% so với năm trước. ABIC cũng đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 15% và tỷ lệ chi trả cổ tức là 14%.

Để hiện thực hóa các chỉ tiêu này, Bảo hiểm ABIC sẽ tiếp tục đẩy mạnh các sản phẩm "đặt hàng" từ ngân hàng mẹ như bảo hiểm khoản vay cho cá nhân và doanh nghiệp, bảo hiểm tín dụng. Đại diện Bảo hiểm BIC cho biết, công ty dự kiến tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2025 (theo báo cáo riêng lẻ công ty mẹ, bao gồm cả doanh thu khác từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm) ở mức 5.600 tỷ đồng, tăng 11% so với kết quả đạt được trong năm 2024. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất dự kiến đạt 710 tỷ đồng, tăng 9% so với năm trước.

Năm 2025, Bảo hiểm BIC sẽ nâng vốn điều lệ lên 2.020 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu. Từ năm 2026 trở đi, bên cạnh cam kết cổ tức bằng tiền mặt 10%, BIC sẽ tiếp tục tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu để chi trả cổ tức, với tỷ lệ cụ thể căn cứ vào kết quả kinh doanh từng năm. Với kế hoạch này, BIC kỳ vọng trở thành 1 trong 4 công ty bảo hiểm có vốn điều lệ cao nhất thị trường, tạo nền tảng vững chắc để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và đầu tư vào công nghệ, sản phẩm mới.

Đại diện Bảo hiểm MIC chia sẻ, dự báo năm 2025, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm tại Việt Nam sẽ đạt 3,5% vào năm 2025 và 15% vào năm 2030. Trước cơ hội đó, MIC đặt mục tiêu giữ vững vị thế top 4 về thị phần trong ngành bảo hiểm phi nhân thọ và hướng tới tiến sâu vào top 3 trong năm 2026, doanh thu bảo hiểm tăng trưởng tối thiểu 25%, lợi nhuận tăng trưởng 75%.

Năm 2025, Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch đạt doanh thu bảo hiểm gốc 1.745 tỷ đồng, doanh thu nhận tái bảo hiểm dự kiến tăng gần 4 lần, đạt 449 tỷ đồng. Nhờ chiến lược cơ cấu lại hoạt động, lợi nhuận sau thuế năm 2025 kỳ vọng đạt 13,1 tỷ đồng, tăng 46,5% so với 2024.

Theo đó, năm 2025, Bảo hiểm BSH sẽ tiếp tục rà soát, cắt giảm, điều chỉnh các sản phẩm kém hiệu quả, tập trung vào các sản phẩm có biên lợi nhuận tốt nhằm kiểm soát chi phí, quy trình bồi thường…, giúp duy trì lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm tốt hơn.

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã và đang tận dụng các cơ hội từ nhu cầu bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tài sản…, đồng thời ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả kinh doanh, hướng tới tăng trưởng doanh thu ở mức hai con số, tạo tiền đề phát triển bền vững trong thời gian tới.

Năm 2025, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 239.636 tỷ đồng

Năm 2025, thị trường bảo hiểm đặt mục tiêu tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 239.636 tỷ đồng, tăng nhẹ 0,05% so với năm 2024. Trong đó, doanh thu từ bảo hiểm phi nhân thọ dự kiến đạt 85.938 tỷ đồng, tăng 9,77%.

Hồng Chi

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80