Tín dụng kỳ vọng bứt tốc 20%, ngân hàng hé lộ những câu chuyện tăng trưởng riêng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đánh giá triển vọng các tháng cuối năm 2025, VCBS dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ bứt tốc, có thể đạt 18 - 20%, vượt xa mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Lợi nhuận nhóm niêm yết được nâng dự báo lên 18%, với điểm sáng từ các ngân hàng nhỏ sẽ tăng trưởng mạnh, nhóm tư nhân tái cơ cấu, IPO các công ty con, cùng nhóm quốc doanh tăng vốn mạnh.
aa
Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8 Chính thức bỏ độc quyền, nhiều ngân hàng đủ sức nhập "cuộc đua" sản xuất vàng miếng

Trong báo cáo Triển vọng các tháng cuối năm năm 2025 mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcombank (VCBS) kỳ vọng, tăng trưởng tín dụng năm 2025 sẽ bứt tốc, có thể đạt tới 18 - 20%, vượt mục tiêu cả năm do Ngân hàng Nhà nước đề ra.

Kỳ vọng này được đặt trong bối cảnh mặt bằng lãi suất thấp đang kích thích nhu cầu tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh, pháp lý bất động sản dần được tháo gỡ, cùng với định hướng hỗ trợ kinh tế tư nhân, bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp quy mô trung bình.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động nới trần tín dụng cho các ngân hàng từ tháng 7/2025, trong đó các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ được hưởng lợi đáng kể từ chính sách nới room tín dụng.

Tín dụng kỳ vọng bứt tốc 20%, ngân hàng hé lộ những câu chuyện tăng trưởng riêng
Nguồn: VCBS.

Lợi nhuận trước thuế nhóm niêm yết kỳ vọng tăng 18%

"Chúng tôi nâng dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ngành từ 15% lên 18%, trong đó điều chỉnh tăng dự báo tại các các ngân hàng quy mô nhỏ với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và mạnh tay xử lý nợ xấu. Các ngân hàng tư nhân năng động sẽ được hưởng lợi từ chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân và cải thiện chất lượng tài sản. Nhóm này cũng chứng kiến nhiều câu chuyện nổi bật như IPO, tái cơ cấu, thu hồi nợ" - nhóm phân tích VCBS đánh giá.

VCBS đánh giá, nhóm ngân hàng quốc doanh dù tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm hơn nhưng cũng có nhiều điểm nhấn cuối năm.

Theo đó, các ngân hàng quốc doanh tập trung vào kế hoạch tăng vốn quy mô lớn, điển hình như BIDV đặt mục tiêu tăng 30,8% tới năm 2026 và VietinBank dự kiến tăng tới 40% trong năm 2025, đồng thời tiếp tục xử lý dứt điểm nợ xấu để củng cố nền tảng tài chính. Vietcombank được hưởng lợi từ việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Đối với từng ngân hàng cụ thể, VietinBank được dự báo có mức tăng trưởng tín dụng tương đương trung bình ngành, đạt 16,9% trong năm 2025. Biên lãi ròng (NIM) bắt đầu phục hồi từ nửa cuối năm nhờ động lực cả ở chiều huy động và cho vay.

Chất lượng tài sản được kiểm soát tốt, một số khách hàng tái cơ cấu hết thời gian thử thách được chuyển về nợ nhóm thấp hơn, nhờ đó ngân hàng sẽ hoàn nhập trích lập trong quý II/2025.

BIDV được kỳ vọng có mức tăng trưởng tín dụng tương đương trung bình ngành, khoảng 16%, với NIM giảm nhẹ xuống 2,3%. Chất lượng tài sản thuộc nhóm tốt nhất ngành, áp lực trích lập dự phòng ở mức thấp. BIDV cũng dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng, lên gần 91.870 tỷ đồng, thông qua tăng vốn từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ 7,1%, chi trả cổ tức tỷ lệ 19,9% và phát hành riêng lẻ với tỷ lệ 3,84%.

Với các ngân hàng tư nhân, theo đánh giá của VCBS, Techcombank sẽ ghi nhận tăng trưởng tín dụng tốt nhờ sự phục hồi của thị trường bất động sản và xây dựng. Ngân hàng duy trì tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn ở mức cao, tạo lợi thế chi phí vốn và giảm áp lực thu hẹp biên lãi ròng, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu nhập ngoài lãi để gia tăng đóng góp vào lợi nhuận. Kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của công ty con TCBS được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn vốn, tái định giá khoản đầu tư và củng cố vị thế trên thị trường tài chính.

Còn MSB có nhu cầu tín dụng khả quan, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng đạt 21,2% trong năm 2025. Biên lãi ròng bắt đầu cải thiện từ nửa cuối năm, chất lượng tài sản nâng cao với tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 2% nhờ tín dụng tăng trưởng mạnh và thu hồi nợ đã xóa gia tăng.

MSB cũng triển khai kế hoạch hoàn thiện hệ sinh thái thông qua thoái vốn và góp vốn tại các công ty con, bao gồm chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp tại TNEX Finance, đồng thời đầu tư vào công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ.

Với ACB, ngân hàng dự báo tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng tích cực trong năm 2025, được thúc đẩy bởi sự hồi phục rõ nét của nhóm khách hàng cá nhân, trong khi nhu cầu tín dụng của khách hàng doanh nghiệp vẫn giữ mức tăng trưởng khả quan nhờ triển vọng kinh tế thuận lợi hơn. Hiệu quả sinh lời của ACB duy trì ở mức cao nhờ kiểm soát chi phí và quản lý tốt chất lượng tài sản. Biên lãi ròng được kỳ vọng phục hồi nhẹ từ nửa cuối năm 2025 nhờ chi phí vốn cải thiện và tốc độ giảm lãi suất cho vay chậm lại./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80