Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Văn Tuấn
(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 95/2026/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam.
aa

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 95/2026/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam; hướng dẫn thực hiện thủ tục thỏa thuận song phương; hướng dẫn áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.

Thông tư gồm 84 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026. Thông tư này thay thế Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam; Thông tư số 45/2021/TT-BTC ngày 18/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế.

Các thủ tục áp dụng Hiệp định thuế được thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế và Thông tư số 89/2026/TT-BTC.

Đối với hồ sơ đề nghị áp dụng APA nộp trước ngày Thông tư này có hiệu lực nhưng chưa được ký kết và giai đoạn đề nghị áp dụng APA chưa kết thúc tại thời điểm Thông tư này có hiệu lực thì được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và hướng dẫn tại Thông tư này.

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Việt Nam và Liechtenstein ký kết biên bản ghi nhớ Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Ảnh: Tiến Kiên

Cụ thể, về đối tượng áp dụng Hiệp định thuế, Điều 8 Thông tư hướng dẫn:

1. Hiệp định thuế được áp dụng với các đối tượng là đối tượng cư trú của Việt Nam hoặc của Bên ký kết hoặc đồng thời là đối tượng cư trú của Việt Nam và Bên ký kết.

2. Đối tượng cư trú của một Bên ký kết nêu tại khoản 1 Điều này gồm:

a) đối tượng chịu thuế tại Bên ký kết theo quy định pháp luật của Bên ký kết đó và đáp ứng một trong 02 điều kiện sau đây:

a.1) là cá nhân có nhà ở, có nơi cư trú tại Bên ký kết đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân;

a.2) là công ty và bất kỳ tổ chức nào của nhiều cá nhân, công ty hoặc các chủ thể khác có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại Bên ký kết đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một tổ chức;

b) Nhà nước, chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của một Bên ký kết, trong trường hợp Hiệp định thuế có quy định;

c) Tùy theo từng Hiệp định thuế, đối tượng cư trú của một Bên ký kết không bao gồm đối tượng chịu thuế chỉ đối với thu nhập từ các nguồn hoặc tài sản tại Bên ký kết đó.

3. Đối tượng cư trú của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam gồm:

a) Cá nhân cư trú quy định tại Điều 4 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;

b) Công ty và bất kỳ tổ chức nào của nhiều cá nhân, công ty hoặc các chủ thể khác đăng ký hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam;

c) Nhà nước hoặc chính quyền địa phương của Việt Nam, trong trường hợp Hiệp định thuế có quy định;

d) Tùy theo từng Hiệp định thuế, đối tượng cư trú của Việt Nam không bao gồm đối tượng chịu thuế chỉ đối với thu nhập từ các nguồn hoặc tài sản tại Việt Nam.

Đối tượng cư trú của Việt Nam quy định tại khoản này được xác định là đối tượng cư trú theo quy định của Hiệp định thuế nếu đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a.1 và a.2 khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp một đối tượng được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều này đồng thời được xác định là đối tượng cư trú của Bên ký kết theo quy định của pháp luật Bên ký kết thì tình trạng cư trú của đối tượng đó được xác định căn cứ vào các tiêu thức sau:

a) Đối với cá nhân:

Việc xác định một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam được căn cứ tuần tự theo các tiêu thức sau:

a.1) Cá nhân đó có nhà ở thường trú (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê hoặc nhà thuộc quyền sử dụng của cá nhân đó) tại Việt Nam;

a.2) Cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả Việt Nam và Bên ký kết nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như: có việc làm, địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân hoặc quan hệ kinh tế khác; hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình, quan hệ xã hội;

a.3) Cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả Việt Nam và Bên ký kết và không xác định được nơi cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn, hoặc cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả Việt Nam và Bên ký kết, nhưng cá nhân đó có mặt thường xuyên hơn tại Việt Nam trong năm tính thuế;

a.4) Cá nhân đó có mặt thường xuyên hoặc không có mặt thường xuyên tại cả Việt Nam và Bên ký kết nhưng cá nhân đó có quốc tịch Việt Nam;

a.5) Cá nhân đó vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch Bên ký kết hoặc không có quốc tịch Việt Nam và Bên ký kết thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết tình trạng cư trú của cá nhân thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Bên ký kết.

Trường hợp theo quy định pháp luật Việt Nam và Bên ký kết, cá nhân đồng thời được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam và của Bên ký kết trong một năm tính thuế nhưng quy định về năm tính thuế của hai nước có sự khác nhau, khi đó, cá nhân được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam nếu trong năm tính thuế chủ yếu làm việc và thường xuyên sống tại Việt Nam. Đối với khoảng thời gian đầu năm tính thuế của Việt Nam thuộc năm tính thuế trước của Bên ký kết do sự khác biệt về năm tính thuế giữa hai nước, cá nhân được coi là đối tượng cư trú của Bên ký kết cho mục đích quyết toán thuế tại Việt Nam và Bên ký kết.

b) Đối với đối tượng không phải là cá nhân:

Căn cứ quy định tại từng Hiệp định thuế, một đối tượng không phải là cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

b.1) Đối tượng đó được thành lập hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam;

b.2) Đối tượng đó có trụ sở chính tại Việt Nam;

b.3) Đối tượng đó có trụ sở điều hành thực tế tại Việt Nam (trụ sở điều hành thực tế là nơi nhân sự quản lý cấp cao hoặc ban lãnh đạo của doanh nghiệp tiến hành họp, xem xét, thảo luận và đưa ra các quyết định quản lý hoặc các quyết định về sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc nơi các sổ sách kế toán quan trọng nhất được lưu giữ);

b.4) Trường hợp đối tượng đó thành lập hoặc đăng ký tại cả hai nước hoặc có trụ sở chính, hoặc trụ sở điều hành thực tế tại cả hai nước thì nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam và Nhà chức trách có thẩm quyền của Bên ký kết sẽ xác định đối tượng đó chỉ là đối tượng cư trú của một trong hai nước thông qua thủ tục thỏa thuận song phương. Trường hợp Việt Nam và Bên ký kết không đạt được thỏa thuận chung, đối tượng đó không được coi là đối tượng cư trú thuế của bất kỳ nước nào vì mục đích áp dụng Hiệp định thuế.

Các quy định về đối tượng cư trú như trên được nêu tại Điều khoản Đối tượng cư trú của Hiệp định thuế./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Thuế tỉnh Phú Thọ đề nghị liên ngành phối hợp làm sạch mã số thuế

Thuế tỉnh Phú Thọ đề nghị liên ngành phối hợp làm sạch mã số thuế

(TBTCO) - Thuế tỉnh Phú Thọ vừa đề nghị Công an tỉnh Phú Thọ, Sở Tài chính…, phối hợp với cơ quan thuế rà soát, xác minh thực tế địa chỉ kinh doanh và danh tính chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh, người đại diện pháp luật trên địa bàn nhằm làm sạch mã số thuế.
Thuế tỉnh Thanh Hóa: Quản lý chặt nguồn thu gắn với tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh

Thuế tỉnh Thanh Hóa: Quản lý chặt nguồn thu gắn với tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh

(TBTCO) - UBND tỉnh Thanh Hoá chỉ đạo Thuế tỉnh Thanh Hóa phải quyết tâm hoàn thành cao nhất dự toán thu ngân sách năm 2026 trên cơ sở đảm bảo tổ chức thu đúng quy định, công khai, minh bạch, công bằng; không tận thu, không tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp; quản lý chặt nguồn thu phải gắn với tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
Xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan khu vực XIV tăng trưởng hai con số, tạo đà cho thu ngân sách

Xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan khu vực XIV tăng trưởng hai con số, tạo đà cho thu ngân sách

(TBTCO) - Hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan khu vực XIV tiếp tục khởi sắc trong 6 tháng đầu năm 2026 khi số doanh nghiệp, số tờ khai và kim ngạch đều tăng trưởng hai con số so với cùng kỳ. Đây cũng là động lực quan trọng giúp đơn vị hoàn thành hơn 83% dự toán thu ngân sách chỉ sau nửa năm.
Ngành Thuế triển khai chính sách giảm thuế đối với xăng dầu

Ngành Thuế triển khai chính sách giảm thuế đối với xăng dầu

(TBTCO) - Thực hiện Nghị quyết số 34/2026/NQ-CP của Chính phủ về việc kéo dài thời hạn áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay, Cục Thuế có Công điện chỉ đạo các Trưởng Thuế tỉnh, thành phố; Chi cục Thuế thương mại điện tử; Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn kịp thời triển khai.
Infographics: Thu ngân sách 6 tháng do ngành Thuế quản lý ước đạt hơn 1.382.330 tỷ đồng

Infographics: Thu ngân sách 6 tháng do ngành Thuế quản lý ước đạt hơn 1.382.330 tỷ đồng

(TBTCO) - Theo báo cáo của Cục Thuế, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, số thu ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý ước đạt trên 1.382.330 tỷ đồng, bằng 61,6% dự toán pháp lệnh, tăng 16,6% so với cùng kỳ thực hiện.
Thuế tỉnh Điện Biên thu ngân sách 6 tháng đạt hơn 69% dự toán

Thuế tỉnh Điện Biên thu ngân sách 6 tháng đạt hơn 69% dự toán

(TBTCO) - Theo lãnh đạo Thuế tỉnh Điện Biên, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh được 1.047,7 tỷ đồng, đạt 69,2% dự toán, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Mạnh tay xử lý hoạt động kinh doanh online không đăng ký thuế

Mạnh tay xử lý hoạt động kinh doanh online không đăng ký thuế

(TBTCO) - Trước tình trạng một bộ phận tổ chức, cá nhân kinh doanh online qua mạng xã hội không đăng ký kinh doanh và tài khoản kinh doanh với cơ quan thuế nhằm trốn thuế, né thuế, cơ quan quản lý khẳng định sẽ mạnh tay xử lý nhằm chống thất thu ngân sách, tạo môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh cho cộng đồng doanh nghiệp.
Hải quan chủ động vào cuộc triệt phá 257 vụ buôn lậu, gian lận thương mại

Hải quan chủ động vào cuộc triệt phá 257 vụ buôn lậu, gian lận thương mại

(TBTCO) - Trong 6 tháng đầu năm 2026, Chi cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan đã phát hiện, xử lý 257 vụ vi phạm; khởi tố và kiến nghị khởi tố 11 vụ án. Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt của lực lượng Hải quan trong đấu tranh với buôn lậu, tội phạm ma túy và các hành vi gian lận trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Xem thêm