Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (21-25/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 50 đồng lên 24.948 VND/USD, tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng chạm trần nhưng đà tăng chậm lại so với tuần trước. Giới phân tích cho rằng, nếu cả năm 2025 tỷ giá tăng dưới 4%, nhà điều hành còn dư địa tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng, duy trì lãi suất thấp.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới

Ngày 25/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.948 VND/USD, tăng thêm 20 đồng so với hôm qua. Như vậy, với biên độ giao dịch 5% so với tỷ giá trung tâm, tỷ giá trần được áp dụng là 26.195 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.701 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng tăng khoảng 20 đồng, hiện ở mức 23.732 VND/USD (mua vào) và 26.124 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD tại các ngân hàng chạm trần nhưng đà tăng chậm lại

Tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục tăng và hầu hết nâng lên chạm trần, ở mức 26.195 VND/USD. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.805 - 26.195 VND/USD, tăng 21 đồng ở cả hai chiều so với phiên hôm qua. Tương tự, BIDV cũng nâng tỷ giá USD thêm 38 đồng chiều mua lên 25.869 VND/USD và 21 đồng chiều bán lên 26.195 VND/USD.

Trên thị trường chợ đen, đồng USD được giao dịch ở mức 26.345 - 26.445 VND/USD, giảm nhẹ 5 đồng so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%
Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%. Ảnh tư liệu.

Tỷ giá USD giữ đà tăng song giảm tốc so với tuần trước

Về diễn biến trong tuần qua (21-25/4), tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 50 đồng; trong đó, điều chỉnh giảm 30 đồng phiên 22/4, còn lại các phiên đều tăng. Tỷ giá USD các ngân hàng thương mại vẫn giữ đà tăng khoảng 75 đồng chiều bán ra, song hạ nhiệt so với mức tăng mạnh 200 đồng tuần trước. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng biến động cùng chiều, tăng 60 đồng tuần qua và thấp hơn mức tăng 265 đồng tuần trước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, duy trì dưới mốc 100 điểm, tương ứng khoảng 99,61 điểm và thấp nhất trong vòng 3 năm qua.

Chuyên gia Deutsche Bank cho rằng, đây là dấu hiệu cho thấy đồng USD đang dần mất đi sức hấp dẫn của một đồng tiền dự trữ. Sức mạnh của đồng USD đang suy yếu do phản ứng mạnh mẽ đối với chính sách thuế quan.

Sự giảm giá rõ rệt này phản ánh việc các nhà đầu tư quốc tế rút lui khỏi các tài sản của Mỹ được định giá bằng USD, khi thị trường Mỹ mất đi sức hấp dẫn giữa những bất ổn liên quan đến thuế quan và các động thái gây giảm lòng tin vào cổ phiếu và trái phiếu.

Theo giới phân tích, sự giảm sút đột ngột về nhu cầu USD cũng cho thấy các quốc gia đang xem xét lại sự phụ thuộc vào đồng bạc xanh, vốn là đồng tiền dự trữ chính của thế giới suốt gần một thế kỷ. Vị thế của đồng USD giúp Mỹ chi tiêu vượt quá thu nhập, với mức thâm hụt ngân sách của Mỹ lên tới 1,8 nghìn tỷ USD năm vừa qua.

Tỷ giá dưới 4%, cửa sáng cho chính sách tiền tệ nới lỏng

Chia sẻ gần đây, TS.Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho rằng, tỷ giá tăng mạnh trong đầu tháng 4/2025, nhưng cũng dần ổn định trở lại và ở thế giằng co, dù còn nhiều áp lực. Dự báo cả năm 2025 tỷ giá sẽ tăng 3-4%.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%
Tỷ giá tăng mạnh trong đầu tháng 4/2025 và còn nhiều áp lực. Ảnh tư liệu.

Trong báo cáo mới cập nhật về động thái hoãn thuế quan của Mỹ, Công ty Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho rằng, trong 90 ngày tạm hoãn, Việt Nam vẫn có thể được hưởng lợi từ xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, đặc biệt từ quốc gia chịu mức áp thuế cao hơn so với Việt Nam.

Yếu tố hỗ trợ thị trường ngoại hối ổn định

Theo VCBS, xa hơn, nếu căng thẳng thương mại Mỹ - Trung được nâng lên cùng các động thái liên tục trả đũa, Việt Nam vẫn chứng minh được nền tảng ổn định vững chắc, khi đó, Việt Nam sẽ là điểm đến lý tưởng của dòng vốn đầu tư và các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây cũng là yếu tố hỗ trợ thị trường ngoại hối trong thời gian tới. Theo đó, VCBS kỳ vọng thị trường ngoại hối và tỷ giá có thể diễn biến tích cực hơn, thay vì chịu áp lực bật tăng nhanh và mạnh như trong thời gian gần đây.

VCBS duy trì quan điểm chính sách tiền tệ có thể được điều hành theo chiều hướng đảm bảo các yếu tố ổn định vĩ mô và tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ các doanh nghiệp.

Trong khi đó, bên cạnh các động thái đàm phán đã và đang được thương thảo, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung và củng có nội lực tăng trưởng trong nước, được kể đến như: đẩy mạnh đầu tư công, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, dịch vụ.

Do vậy, VCBS hoàn toàn lạc quan và tự tin vào động thái điều hành trong nước và chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam, tất cả hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Còn Chứng khoán KB cho rằng, nếu tỷ giá tăng dưới 4%, NHNN vẫn có dư địa để tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng, duy trì lãi suất vay thấp để kích cầu mua và đầu tư bất động sản trong năm 2025, đặc biệt trong bối cảnh niềm tin người mua nhà có thể bị ảnh hưởng bởi thị trường lao động kém khả quan.

Trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ khiến thị trường lo ngại về áp lực tỷ giá, NHNN cam kết vẫn hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nhằm ổn định lãi suất. Cụ thể, NHNN đã ngưng phát hành tín phiếu từ 1 tháng trước, thay vào đó tăng cường bơm ròng thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn, với khối lượng đạt 42.460,33 tỷ đồng trong tuần qua 21-25/04.

Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 62.185 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền hút ròng khỏi hệ thống là 19.724 tỷ đồng, trái ngược với khoản bơm ròng tuần trước (8.356,67 tỷ đồng).

Ngoài ra, NHNN cũng bổ sung thêm các kỳ hạn dài hơn như 35 ngày và 91 ngày, cho thấy định hướng hỗ trợ thanh khoản mang tính dài hạn, ổn định hơn cho hệ thống ngân hàng. Việc duy trì thanh khoản dồi dào thể hiện rõ định hướng ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 24/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm giảm mạnh so với tuần trước, giao dịch dưới 4% ở mức 3,31% (giảm 79 điểm cơ bản); 1 tuần: 4,05% (giảm 19 điểm cơ bản); 2 tuần: 4,33% (giảm 18 điểm cơ bản); 1 tháng: 4,37% (tăng 15 điểm cơ bản); 3 tháng: 4,72% (tăng nhẹ 2 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 16 USD/ounce, còn 4.072 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng.
SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Bệnh viện Bạch Mai ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, hướng tới ứng dụng các giải pháp tài chính và công nghệ vào quản trị bệnh viện, thanh toán viện phí, nâng cao trải nghiệm người bệnh, đồng thời phối hợp triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

(TBTCO) - Đơn giản hóa thủ tục bồi thường, tăng cường liên thông dữ liệu và đổi mới truyền thông..., là những giải pháp được đề xuất tại Hội thảo khoa học cấp Bộ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tổ chức mới đây tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/11, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng, xuống 25.623 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, chỉ số DXY mất 0,25% còn 101,29 điểm, sát mốc 101 điểm. Đồng bạc xanh có lúc chạm đáy 5 tuần sau chiến thắng bất ngờ của đảng Dân chủ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, trong khi giá dầu WTI lùi sát 87 USD/thùng.
Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ một số quy định xử phạt không còn phù hợp; bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi như: chậm trả tiền bảo hiểm, vi phạm thời hạn bồi thường, cung cấp bảo hiểm trực tuyến... Đồng thời, dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa 5 điều kiện kinh doanh và một thủ tục hành chính với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 130 USD/ounce, vượt mốc 4.000 USD, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi lên.
Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,300 140,300
Hà Nội - PNJ 136,300 140,300
Đà Nẵng - PNJ 136,300 140,300
Miền Tây - PNJ 136,300 140,300
Tây Nguyên - PNJ 136,300 140,300
Đông Nam Bộ - PNJ 136,300 140,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,800 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,800 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,650 14,050
Trang sức 99.9 13,330 13,930
Trang sức 99.99 13,340 13,940
Vàng 99.9 12,750
Vàng 99.99 12,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cập nhật: 08/11/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17027 17297 17886
CAD 17575 17848 18467
CHF 30535 30911 31550
CNY 0 3789 3885
EUR 27881 28096 29178
GBP 33351 33739 34676
HKD 0 3132 3335
JPY 154 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 13876 14463
SGD 19398 19678 20258
THB 678 741 794
USD (1,2) 25323 0 0
USD (5,10,20) 25359 0 0
USD (50,100) 25387 25400 25770
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,395 25,395 25,775
USD(1-2-5) 24,380 - -
USD(10-20) 24,380 - -
EUR 28,083 28,105 29,445
JPY 157.64 157.92 167.53
GBP 33,746 33,837 35,010
AUD 17,327 17,390 18,054
CAD 17,881 17,938 18,605
CHF 30,914 31,010 31,939
SGD 19,568 19,629 20,406
CNY - 3,762 3,907
HKD 3,198 3,208 3,344
KRW 17.35 18.09 19.69
THB 728.06 737.05 789.6
NZD 13,928 14,057 14,475
SEK - 2,556 2,648
DKK - 3,767 3,901
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,889.42 - 6,649.1
TWD 700.88 - 849.32
SAR - 6,698.34 7,058.04
KWD - 80,861 86,063
AED - 6,713 7,235
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,370 25,400 25,780
EUR 28,050 28,191 29,414
GBP 33,715 33,884 34,916
HKD 3,192 3,211 3,329
CHF 30,744 30,898 31,843
JPY 157.26 158.85 166.81
AUD 17,268 17,390 17,982
SGD 19,541 19,718 20,312
THB 732 747 785
CAD 17,838 17,964 18,556
NZD 13,987 14,538
KRW 18.20 20.18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25400 25400 25760
AUD 17229 17329 18259
CAD 17828 17928 18945
CHF 30857 30887 32469
CNY 3774.9 3799.9 3935
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28138 28168 29893
GBP 33747 33797 35554
HKD 0 3300 0
JPY 158.07 158.57 169.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 13981 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19587 19717 20439
THB 0 707.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,270 25,390 25,750
USD20 25,240 25,390 25,750
USD1 24,335 25,390 26,895
AUD 17,120 17,318 18,510
EUR 27,850 28,003 29,703
CAD 17,705 17,855 19,186
SGD 19,600 19,800 20,384
JPY 157.95 159.95 165.75
GBP 33,565 33,765 34,889
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,751 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/11/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30