Thử thách giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp trong bối cảnh áp lực gia tăng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động tại phần lớn ngân hàng giữ ổn định trong tháng 5, xu hướng giảm đang chững lại. Dư địa điều chỉnh tiếp không còn nhiều, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, trong khi áp lực tỷ giá, duy trì thanh khoản hệ thống và giữ biên lãi ròng (NIM) gặp nhiều thách thức.
aa
Thử thách giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp trong bối cảnh áp lực gia tăng
Tính đến giữa tháng 5/2025, lãi suất tiền gửi cá nhân tại 36 ngân hàng nhìn chung ít biến động. Ảnh minh họa

Thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cho thấy, trong 4 tuần qua, tính đến giữa tháng 5/2025, lãi suất tiền gửi cá nhân tại 36 ngân hàng nhìn chung ít biến động, chỉ có 7 ngân hàng điều chỉnh lãi suất, bao gồm 4 ngân hàng giảm, 1 ngân hàng tăng và 2 ngân hàng vừa tăng vừa giảm tùy kỳ hạn.

Xu hướng giảm lãi suất huy động có dấu hiệu chững lại

Theo đó, VCBNeo là đơn vị có mức giảm mạnh nhất, hạ 0,3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6 - 36 tháng tại quầy xuống còn 5,2 - 5,45%/năm và kỳ hạn 6 - 60 tháng gửi online xuống 5,4 - 5,55%/năm. Hiện mức lãi suất cao nhất tại ngân hàng này là 5,55%/năm cho kỳ hạn 13 - 60 tháng gửi online. Cùng với đó, ba ngân hàng khác gồm Indovina, VietABank và OCB ghi nhận mức giảm nhẹ hơn, từ 0,1 - 0,2%, áp dụng cho cả hình thức gửi tại quầy và online ở hầu hết các kỳ hạn, từ không kỳ hạn đến 60 tháng.

Ngược lại, BacABank điều chỉnh tăng lãi suất đáng kể đối với các khoản tiền gửi từ 1 tỷ đồng trở lên. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 - 9 tháng tăng 0,4%, lên mức 4,1 - 5,65%/năm; các kỳ hạn 12 - 36 tháng tăng thêm 0,2 - 0,3% lên mức 5,9 - 6,2%/năm. Đây cũng là mức lãi suất cao nhất hiện nay tại BacABank, áp dụng cho kỳ hạn 18 - 36 tháng gửi tại quầy.

Trong khi đó, GPBank và Eximbank có động thái điều chỉnh linh hoạt, tăng từ 0,05 - 0,3% và giảm từ 0,1 - 0,2%, tùy từng kỳ hạn. GPBank hiện đang áp dụng mức cao nhất là 5,95%/năm cho kỳ hạn 12 - 36 tháng gửi online. Eximbank niêm yết mức cao nhất 5,6%/năm cho kỳ hạn 18 - 36 tháng gửi online, riêng vào thứ bảy và chủ nhật, lãi suất tăng thêm lên 5,7%/năm cho cùng kỳ hạn.

Bơm thanh khoản duy trì lãi suất thấp nhưng vẫn lo áp lực tỷ giá

“Lãi suất huy động đang có thể kìm giữ nhờ Ngân hàng Nhà nước. Nếu Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục bơm thanh khoản nhiều cho hệ thống thì lãi suất vẫn duy trì thấp. Cùng với đó, nếu các ngân hàng bắt đầu rục rịch đà tăng lãi suất liền ngay lập tức nhà điều hành sẽ can thiệp. Tuy nhiên, điều gì cũng có hai mặt, nếu giữ lãi suất thấp trong bối cảnh hiện tại, áp lực tỷ giá sẽ rất lớn. Dù đồng USD đang có xu hướng suy yếu, nhưng VND vẫn tiếp tục mất giá so với USD, tức xảy ra tình trạng suy yếu kép" - PGS. TS Nguyễn Hữu Huân nhìn nhận.

Trong báo cáo mới công bố, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định, xu hướng giảm lãi suất huy động trong tháng trước đang có dấu hiệu chững lại. Một số ngân hàng như OCB, Nam A Bank và VPBank vẫn tiếp tục điều chỉnh giảm nhẹ trong tháng 4. Tính đến cuối tháng 4/2025, lãi suất huy động trung bình kỳ hạn 12 tháng giảm khoảng 0,12% so với cuối năm 2024. Trong khi đó, lãi suất cho vay giảm mạnh hơn, ước tính khoảng 0,6% trong quý đầu năm 2025, theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước.

Theo nhóm phân tích VDSC, trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước vẫn có dư địa điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt để đảm bảo thanh khoản lành mạnh. Tuy nhiên, trong kịch bản tiêu cực nếu chính sách thuế quan vẫn duy trì ở mức cao sau đàm phán hoặc có sự chênh lệch lớn so với các quốc gia trong khu vực, điều này có thể tạo ra áp lực lớn lên chính sách điều hành, gây biến động tỷ giá và dòng vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản và mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế.

Tỷ giá và NIM chịu thử thách

Cũng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, dư địa để các ngân hàng tiếp tục cắt giảm lãi suất trong nửa cuối năm 2025 là không còn dư dả.

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hiện nay, mặt bằng lãi suất huy động vẫn đang được kìm giữ phần lớn nhờ chính sách điều hành của NHNN. Dù vậy, nếu tiếp tục giữ mặt bằng lãi suất thấp, áp lực lên tỷ giá sẽ ngày càng lớn, đặc biệt khi kinh tế quốc tế đang tiềm ẩn nhiều biến động khó lường. Trong trường hợp xuất khẩu sụt giảm mạnh do tác động từ chiến tranh thương mại hay biến động toàn cầu, tỷ giá sẽ trở thành điểm nóng và khó kiểm soát trong thời gian tới.

Theo phân tích của chuyên gia này, khi nhìn sang tỷ giá EUR, mức tăng càng rõ, từ mức 27.000 VND/EUR trước đây, nay đã lên đến 29.000 đồng hoặc hơn, phần lớn do VND neo chặt vào USD, trong khi USD lại giảm giá so với các đồng tiền mạnh khác.

Cũng theo nhóm phân tích từ Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS), Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ tiếp tục sử dụng các công cụ thị trường mở nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, đồng thời duy trì định hướng chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.

Bên cạnh đó, NIM ngành ngân hàng đang bị thu hẹp cũng là vấn đề được nhiều ngân hàng thương mại cổ phần quan tâm. Trong quý I/2025, nhiều ngân hàng ghi nhận mức giảm NIM đáng kể, phản ánh tác động của mặt bằng lãi suất thấp và áp lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay, duy trì lãi suất cho vay thấp để hỗ trợ nền kinh tế.

Ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường tại Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS), nhận định NIM của một số ngân hàng thu hẹp, đặc biệt thể hiện rõ trong báo cáo kết quả kinh doanh quý I/2025. Điều này được đặt trong bối cảnh các ngân hàng cần chia sẻ lợi nhuận và thể hiện trách nhiệm đối với nền kinh tế và thị trường thông qua việc triển khai các gói tín dụng với lãi suất hợp lý nhằm hỗ trợ tăng trưởng.

Mặt bằng lãi suất đối mặt nhiều sức ép

Trong báo cáo mới đây về việc thực hiện các nghị quyết chất vấn của Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước cho biết, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Tính đến giữa tháng 4/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay phát sinh mới của khối ngân hàng thương mại đạt khoảng 6,34%/năm, giảm 0,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2024.

Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực. Trong đó, lãi suất cho vay giảm mạnh trong thời gian qua, khiến dư địa điều chỉnh tiếp trở nên hạn hẹp. Đồng thời, nhu cầu tín dụng dành cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng được dự báo sẽ tăng mạnh nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025, trong khi đó, khả năng huy động vốn của toàn hệ thống tổ chức tín dụng có thể gặp khó khăn do sự cạnh tranh từ các kênh đầu tư hấp dẫn khác...

Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bám sát diễn biến thị trường và tình hình kinh tế trong nước và quốc tế để điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả. Đồng thời, chính sách tiền tệ sẽ được phối hợp đồng bộ, hài hòa và chặt chẽ với chính sách tài khóa cũng như các chính sách vĩ mô khác, nhằm đạt được mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ gắn với việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80