Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (12-16/5) cho thấy, lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt ở mọi kỳ hạn, tỷ giá USD/VND ổn định ở kênh chính thức nhưng tăng nhẹ trên thị trường tự do. Dù vậy, vẫn còn ẩn số thuế quan ảnh hưởng đến triển vọng xuất khẩu và dòng vốn nước ngoài, khiến thị trường ngoại hối duy trì tâm lý thận trọng.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ngày 16/5, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.960 VND/USD, giảm 10 đồng so với ngày trước đó. Với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại hiện được phép giao dịch trong khoảng 23.712 - 26.208 VND/USD. Cùng lúc, tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh giảm xuống 23.762 (mua vào) và 26.158 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá ngân hàng đi ngang, chợ đen nhích tăng

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD ít biến động. Chốt phiên, Vietcombank, đơn vị có quy mô giao dịch ngoại tệ lớn nhất hệ thống, niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.720 - 26.110 VND/USD, không đổi so với phiên trước. Tương tự, VietinBank giữ nguyên cả hai chiều giao dịch, ở mức 25.750 - 26.110 VND/USD.

Trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng USD biến động hơn, giao dịch ở mức 26.450 - 26.550 VND/USD, tăng 70 đồng chiều mua và 50 đồng chiều bán so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số
Biến động tỷ giá USD/VND tháng qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá ngân hàng thêm 1 tuần hạ nhiệt

Về diễn biến trong tuần qua (12-16/5), tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 9 đồng, trong đó có 1 phiên tăng mạnh 28 đồng, ba phiên giảm nhiệt. Tỷ giá USD các ngân hàng thương mại tiếp tục nối dài thêm 1 tuần hạ nhiệt, với nhiều phiên đi ngang và giảm nhẹ, tương ứng giảm khoảng 40 đồng chiều bán ra. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động ngược chiều, tăng 75 đồng.

Trong tuần từ 12-16/5, tỷ giá USD/VND có xu hướng ổn định ở kênh chính thức nhưng tăng nhẹ ở thị trường tự do.

Theo đó, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố có biến động nhẹ, mức tăng giảm trong tuần chủ yếu ở biên độ hẹp và có tới 4/5 phiên giảm hoặc đi ngang. Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra USD có xu hướng giảm nhẹ, hầu hết các phiên giảm nhiệt. Diễn biến này cho thấy thị trường đang trong trạng thái cân bằng tương đối.

Trái chiều với sự ổn định của tỷ giá trung tâm và giảm nhẹ từ phía ngân hàng, thị trường tự do lại ghi nhận xu hướng tăng phiên đầu tuần và cuối tuần. Từ mức 26.500 VND/USD duy trì trong phần lớn tuần, tỷ giá tự do tăng lên 26.550 vào ngày 16/5, tăng 50 đồng chiều bán ra so với phiên trước.

Tỷ giá EUR tại ngân hàng cũng tiếp đà hạ nhiệt. Cập nhật cuối ngày 15/5, Vietcombank niêm yết ở mức 28.298,07 - 29.843,73 VND/EUR, giảm tới 157 đồng chiều mua và 170 đồng chiều bán. BIDV giao dịch ở 28.618 - 29.861 VND/EUR, giảm lần lượt 137 đồng và 145 đồng hai chiều.

Chính sách thuế quan chưa ngã ngũ, rủi ro tỷ giá vẫn hiện hữu

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, giảm nhẹ tuần qua và thấp nhất trong vòng 3 năm qua, nhưng vẫn duy trì mốc trên 100 điểm.

Dữ liệu lạm phát của Mỹ yếu hơn dự kiến, chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm mạnh nhất trong 5 năm, củng cố lập luận cho rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến cắt giảm lãi suất cuối năm hỗ trợ đà tăng trưởng. Đồng thời, các dấu hiệu cho thấy căng thẳng thương mại toàn cầu đang dịu đi làm thay đổi tâm lý của các nhà đầu tư, kéo đồng bạc xanh xuống thấp hơn so với các loại tiền tệ chính.

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số
Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số. Ảnh: T.L.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, dù chỉ số DXY giảm 4,5% trong tháng 4, tỷ giá USD/VND tăng 1,6% tháng qua và tăng tổng cộng 2% từ đầu năm đến nay.

Tỷ giá USD/VND tăng xuất phát từ một số lý do: lo ngại về khả năng áp thuế quan đối ứng sẽ ảnh hưởng đến dòng vốn FDI và xuất khẩu của Việt Nam; lo ngại về căng thẳng thương mại gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, có thể dẫn đến đồng CNY chịu áp lực giảm giá; giá vàng trong nước tăng mạnh vào tháng 4, đặc biệt giá vàng SJC tăng mạnh 19,2% trong tháng 4; nhu cầu từ Kho bạc Nhà nước.

Thận trọng chờ đợi kết quả thuế quan

"Hiện tâm lý thị trường ngoại hối vẫn thận trọng khi các nhà đầu tư vẫn đang chờ đợi kết quả đàm phán về thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ" - Chứng khoán Vietcap nhìn nhận.

Còn theo nhìn nhận của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), khác với mô thức được ghi nhận trong quá khứ là dòng tiền tìm đến các tài sản USD như “vịnh tránh bão” trong bối cảnh bất định hoặc rủi ro suy thoái toàn cầu gia tăng, chính sách thuế quan của Trump khiến nhà đầu tư nghi ngờ về vai trò trú ẩn của đồng USD. Đây lại là yếu tố thuận lợi với diễn biến tỷ giá.

Tuy nhiên, bất lợi với triển vọng tỷ giá chính là sự không chắc chắn về kịch bản thuế quan sau đàm phán gây quan ngại về triển vọng xuất khẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài.

"Trong ngắn hạn, NHNN có dư địa để kiểm soát đà mất giá của tiền đồng trong biên độ cho phép từ 3-5% trong năm 2025. Ở kịch bản tiêu cực, cú sốc thuế 46% đối với mặt hàng xuất khẩu có thể khiến tiền đồng mất giá mạnh hơn để cân bằng với áp lực do thuế quan gây ra ở thị trường xuất khẩu" - VDSC đánh giá.

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá vẫn chịu nhiều sức ép, NHNN quay trở lại hút ròng 29.493,47 tỷ đồng. Tuần qua, NHNN cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO), với khối lượng đạt 18.397,26 tỷ đồng trong tuần qua 12-16/05, thấp hơn đáng kể tuần trước đó (38.094,34 tỷ đồng). Tuy nhiên, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn lên tới 47.890,73 tỷ đồng. Lượng OMO đang lưu hành giảm còn 46.226,65 tỷ đồng.

Lãi suất VND liên ngân hàng giảm diện rộng

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 15/5, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm duy trì dưới 4% và giảm so với cuối tuần trước ở mức 3,92% (giảm 17 điểm cơ bản); 1 tuần 4,08% (giảm 16 điểm cơ bản); 2 tuần: 4,16% (giảm 15 điểm cơ bản); 1 tháng: 4,33% (giảm 4 điểm cơ bản); 3 tháng: 4,68% (giảm 10 điểm cơ bản).

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số
Biến động lãi suất liên ngân hàng các tháng qua. Ảnh: T.L.

Nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap cho rằng, lãi suất liên ngân hàng sẽ duy trì ở mức thấp trong tháng 5 do NHNN và các ngân hàng thương mại tuân theo chỉ đạo về việc duy trì môi trường lãi suất thấp.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30