Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khác với các kỳ trước, nhóm ngân hàng quy mô "hạt tiêu" phát triển bứt tốc, với lợi nhuận trước thuế bình quân tăng 27,5%, nhiều trường hợp tăng bằng lần; tín dụng nhiều nhà băng tăng hai chữ số, tiến sát mục tiêu năm. Chiến lược ngách và khai thác “miếng bánh” khối lớn bỏ ngỏ giúp các nhà băng biến thách thức thành cơ hội.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Thống kê cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, nhóm các ngân hàng có quy mô tài sản dưới 300 nghìn tỷ đồng cùng dư nợ cho vay khách hàng dưới 200 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2024 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực sau nửa đầu năm 2025. Theo đó, có 8/12 ngân hàng tăng tổng tài sản vượt mức bình quân 9,1%; lợi nhuận sau thuế tăng mạnh, có nơi tăng bằng lần và nằm trong nhóm cao nhất toàn ngành.

Nhiều ngân hàng nhỏ dẫn "sóng" lợi nhuận

Bức tranh lợi nhuận nhóm ngân hàng này nửa đầu 2025 khá sáng, với lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và cao hơn khối ngân hàng niêm yết (16,1%), được “kéo” nhờ đẩy mạnh tín dụng vừa tăng thu ngoài lãi, lợi nhuận bật mạnh rõ rệt.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đơn cử, chỉ tiêu cho vay khách hàng của NCB tăng 22%, gần cán mốc mục tiêu đề ra và góp phần giúp lãi thuần tăng 155,3% cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế NCB bùng nổ 6.343% lên 462,9 tỷ đồng, nhờ mức nền thấp cùng kỳ và cải thiện chất lượng tài sản.

ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng vọt trên 200% nhờ vận hành “hai động cơ”, đó là thu nhập lãi thuần tăng 20,6% lên 1.765 tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi bứt phá 141%, lên 1.910,5 tỷ đồng.

Lãi trước thuế tăng bình quân 27,5%, có ngân hàng tăng bằng lần

Thống kê cho thấy nhóm ngân hàng nhỏ đang tăng tốc. Sau 6 tháng đầu năm 2025, 8/12 nhà băng mở rộng tài sản vượt ngưỡng 9,1% bình quân; lợi nhuận sau thuế bứt phá nhờ hai "động cơ” lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đưa lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và giúp một số ngân hàng lọt nhóm tăng trưởng mạnh nhất thị trường.

PGBank cũng tăng khả quan nhờ lãi thuần tăng 16%, các khoản thu ngoài lãi tăng đột biến 720,6% lên 143,4 tỷ đồng, kéo lợi nhuận ngân hàng tăng mạnh gần 35%.

Theo đại diện PGBank, danh mục đầu tư của ngân hàng mở rộng, ngoài trái phiếu Chính phủ còn bổ sung chứng chỉ tiền gửi, qua đó thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng. Thu nhập ngoài lãi tăng chủ yếu nhờ tăng thu từ hoạt động giải ngân và kinh doanh ngoại tệ; mảng bảo lãnh và bảo hiểm ghi nhận mức tăng nhẹ.

VietBank cũng ghi nhận tăng trưởng đồng pha của các chỉ tiêu cho vay khách hàng, lãi thuần, thu ngoài lãi cũng tích cực tăng 25,3% nên lợi nhuận tăng tương ứng, lên 514,3 tỷ đồng.

Trong nhóm này, chỉ duy nhất OCB giảm về lợi nhuận trước thuế so với cùng kỳ, khi đạt khoảng 1.893 tỷ đồng, giảm 10,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do dự phòng tăng 51% quý II, cùng lãi sụt giảm quý đầu năm lên tới 26%.

Về tăng trưởng cho vay khách hàng, dẫn đầu là NCB 86.834,6 tỷ đồng, tăng 22% so với cuối năm 2024 lên gần 87.000 tỷ đồng, góp phần giúp tổng tài sản tăng 21,6%, cao thứ hai toàn ngành và vượt 6,3% so với mức kế hoạch cả năm 2025 (135.500 tỷ đồng). Kế đến là ABBank tăng 16% dư nợ cho vay lên 114.534,5 tỷ đồng; NamABank tăng 14,7% lên 192.466,3 tỷ đồng...

Nhóm tăng quanh 9 - 10% tương đương trung bình ngành gồm: OCB tăng 9,1% lên 186.333,1 tỷ đồng; VietBank tăng 9,4% lên 102.447,5 tỷ đồng... Ngoại lệ là Saigonbank giảm dư nợ cho vay khách hàng 7,2% cùng kỳ, giảm còn 20.261,0 tỷ đồng. Dù vậy, điểm đáng thú vị là lãi thuần vẫn duy trì đà tăng 10,2% và lợi nhuận vẫn tăng 5%, hàm ý ngân hàng cơ cấu lại tài sản sinh lãi và tận dụng ngoài lãi 105,2% để giữ tăng trưởng lợi nhuận.

Ngân hàng nhỏ chọn chiến lược “ngách”, chớp cơ hội

Lý giải sự bứt tốc của nhóm ngân hàng quy mô nhỏ nửa đầu năm 2025, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, ngân hàng nhỏ thời gian qua đạt mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm ngân hàng lớn vì vốn điều lệ và dư nợ thấp, nên đạt tốc độ tăng trưởng cao dễ hơn.

"Hiện còn nhiều biến động kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, ngân hàng lớn khan hiếm khách hàng và chưa có ý định xuống những phân khúc thấp hơn, mà vẫn duy trì những phân khúc cao. Chính vì thế, mức độ an toàn của họ lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng có xu hướng chậm lại. Có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, từ mức cao bị rớt xuống thấp, không thể vay những ngân hàng lớn. Như vậy, "miếng bánh" của các ngân hàng nhỏ lại to lên" - ông Huân lý giải.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia này, với các chính sách cởi mở của Chính phủ, như Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân, sức khỏe doanh nghiệp được kỳ vọng cải thiện.

Nếu ngân hàng nhỏ biết tận dụng cơ hội, chăm sóc tốt khách hàng mới, họ có thể duy trì thị phần nhờ độ trung thành nhất định của khách hàng. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cải thiện dịch vụ cũng giúp các ngân hàng nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Ảnh: T.L.

Cùng chung quan điểm, ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngành ngân hàng cho rằng, do bối cảnh kinh tế còn tồn tại nhiều thách thức, khi điều kiện kinh doanh và cấu trúc thị trường thay đổi, ngân hàng nhỏ tìm được phân khúc khách hàng tiềm năng, đơn cử chỉ cần thêm 1% doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng đủ tạo ra động lực tăng trưởng thị phần đáng kể.

Hơn nữa, ngân hàng nhỏ có tổng dư nợ khoảng 200.000 tỷ đồng thì tăng trưởng 20% không quá khó; trong khi những ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank với dư nợ 2 triệu tỷ đồng, chỉ cần tăng 10% tương đương 200.000 tỷ đồng thì áp lực lớn hơn nhiều.

Cũng theo ông Ân, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ thường bất lợi hơn so với các nhóm ngân hàng khác và thường phải tìm kiếm tăng trưởng theo những “ngách” riêng. Chẳng hạn, có những ngân hàng chuyên phục vụ một khu vực địa lý như miền Tây, Duyên hải miền Trung, hoặc có nhóm tập trung vào mảng cho vay tiêu dùng, nhóm khách hàng cá nhân được xếp hạng ở mức độ thấp.

"Do chọn các "ngách" nhỏ như vậy nên thông thường, những ngân hàng này khó duy trì tăng trưởng ổn định, trong lịch sử cũng tăng trưởng cũng sẽ thấp hơn ba nhóm còn lại, kết quả kinh doanh của họ cũng sẽ kém hơn. Họ cũng không có nhiều quyền chọn khách hàng" - ông Ân lý giải.

Theo ông Ân, hiện tình kinh kinh doanh còn nhiều khó khăn, nhiều khách hàng tìm đến nhà băng quy mô nhỏ sau khi đã bị từ chối ở các ngân hàng khác, dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn, đồng nghĩa rủi ro tín dụng cũng cao hơn.

Do đó, biên lãi ròng (NIM) và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) thường thấp hơn bình quân của ngành (khoảng 20%) do khách hàng ít sử dụng sản phẩm dịch vụ đi kèm như: tiền gửi không kỳ hạn hay Internet Banking. Điều này làm hạn chế khả năng tạo nguồn vốn giá rẻ, kéo theo mức sinh lời thấp, NIM thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 145,200
Hà Nội - PNJ 140,200 145,200
Đà Nẵng - PNJ 140,200 145,200
Miền Tây - PNJ 140,200 145,200
Tây Nguyên - PNJ 140,200 145,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 145,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 14,640
Miếng SJC Nghệ An 14,340 14,640
Miếng SJC Thái Bình 14,340 14,640
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 14,600
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 14,642
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 14,643
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 1,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Cập nhật: 22/07/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17919 18193 18778
CAD 18135 18410 19029
CHF 31745 32126 32779
CNY 0 3849 3943
EUR 29391 29612 30693
GBP 34432 34824 35764
HKD 0 3226 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 15040 15633
SGD 19838 20119 20699
THB 696 759 812
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26507
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18080 18180 19105
CAD 18310 18410 19424
CHF 31988 32018 33600
CNY 3830.5 3855.5 3991
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29566 29596 31321
GBP 34723 34773 36533
HKD 0 3355 0
JPY 157.85 158.35 168.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15134 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19995 20125 20847
THB 0 725 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,510
USD20 26,146 26,196 26,510
USD1 26,146 26,196 26,510
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,406 29,506 31,164
CAD 18,308 18,408 19,714
SGD 20,095 20,245 20,810
JPY 158.75 160.25 165.78
GBP 34,745 34,895 35,957
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80