Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khác với các kỳ trước, nhóm ngân hàng quy mô "hạt tiêu" phát triển bứt tốc, với lợi nhuận trước thuế bình quân tăng 27,5%, nhiều trường hợp tăng bằng lần; tín dụng nhiều nhà băng tăng hai chữ số, tiến sát mục tiêu năm. Chiến lược ngách và khai thác “miếng bánh” khối lớn bỏ ngỏ giúp các nhà băng biến thách thức thành cơ hội.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Thống kê cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, nhóm các ngân hàng có quy mô tài sản dưới 300 nghìn tỷ đồng cùng dư nợ cho vay khách hàng dưới 200 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2024 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực sau nửa đầu năm 2025. Theo đó, có 8/12 ngân hàng tăng tổng tài sản vượt mức bình quân 9,1%; lợi nhuận sau thuế tăng mạnh, có nơi tăng bằng lần và nằm trong nhóm cao nhất toàn ngành.

Nhiều ngân hàng nhỏ dẫn "sóng" lợi nhuận

Bức tranh lợi nhuận nhóm ngân hàng này nửa đầu 2025 khá sáng, với lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và cao hơn khối ngân hàng niêm yết (16,1%), được “kéo” nhờ đẩy mạnh tín dụng vừa tăng thu ngoài lãi, lợi nhuận bật mạnh rõ rệt.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đơn cử, chỉ tiêu cho vay khách hàng của NCB tăng 22%, gần cán mốc mục tiêu đề ra và góp phần giúp lãi thuần tăng 155,3% cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế NCB bùng nổ 6.343% lên 462,9 tỷ đồng, nhờ mức nền thấp cùng kỳ và cải thiện chất lượng tài sản.

ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng vọt trên 200% nhờ vận hành “hai động cơ”, đó là thu nhập lãi thuần tăng 20,6% lên 1.765 tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi bứt phá 141%, lên 1.910,5 tỷ đồng.

Lãi trước thuế tăng bình quân 27,5%, có ngân hàng tăng bằng lần

Thống kê cho thấy nhóm ngân hàng nhỏ đang tăng tốc. Sau 6 tháng đầu năm 2025, 8/12 nhà băng mở rộng tài sản vượt ngưỡng 9,1% bình quân; lợi nhuận sau thuế bứt phá nhờ hai "động cơ” lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đưa lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và giúp một số ngân hàng lọt nhóm tăng trưởng mạnh nhất thị trường.

PGBank cũng tăng khả quan nhờ lãi thuần tăng 16%, các khoản thu ngoài lãi tăng đột biến 720,6% lên 143,4 tỷ đồng, kéo lợi nhuận ngân hàng tăng mạnh gần 35%.

Theo đại diện PGBank, danh mục đầu tư của ngân hàng mở rộng, ngoài trái phiếu Chính phủ còn bổ sung chứng chỉ tiền gửi, qua đó thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng. Thu nhập ngoài lãi tăng chủ yếu nhờ tăng thu từ hoạt động giải ngân và kinh doanh ngoại tệ; mảng bảo lãnh và bảo hiểm ghi nhận mức tăng nhẹ.

VietBank cũng ghi nhận tăng trưởng đồng pha của các chỉ tiêu cho vay khách hàng, lãi thuần, thu ngoài lãi cũng tích cực tăng 25,3% nên lợi nhuận tăng tương ứng, lên 514,3 tỷ đồng.

Trong nhóm này, chỉ duy nhất OCB giảm về lợi nhuận trước thuế so với cùng kỳ, khi đạt khoảng 1.893 tỷ đồng, giảm 10,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do dự phòng tăng 51% quý II, cùng lãi sụt giảm quý đầu năm lên tới 26%.

Về tăng trưởng cho vay khách hàng, dẫn đầu là NCB 86.834,6 tỷ đồng, tăng 22% so với cuối năm 2024 lên gần 87.000 tỷ đồng, góp phần giúp tổng tài sản tăng 21,6%, cao thứ hai toàn ngành và vượt 6,3% so với mức kế hoạch cả năm 2025 (135.500 tỷ đồng). Kế đến là ABBank tăng 16% dư nợ cho vay lên 114.534,5 tỷ đồng; NamABank tăng 14,7% lên 192.466,3 tỷ đồng...

Nhóm tăng quanh 9 - 10% tương đương trung bình ngành gồm: OCB tăng 9,1% lên 186.333,1 tỷ đồng; VietBank tăng 9,4% lên 102.447,5 tỷ đồng... Ngoại lệ là Saigonbank giảm dư nợ cho vay khách hàng 7,2% cùng kỳ, giảm còn 20.261,0 tỷ đồng. Dù vậy, điểm đáng thú vị là lãi thuần vẫn duy trì đà tăng 10,2% và lợi nhuận vẫn tăng 5%, hàm ý ngân hàng cơ cấu lại tài sản sinh lãi và tận dụng ngoài lãi 105,2% để giữ tăng trưởng lợi nhuận.

Ngân hàng nhỏ chọn chiến lược “ngách”, chớp cơ hội

Lý giải sự bứt tốc của nhóm ngân hàng quy mô nhỏ nửa đầu năm 2025, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, ngân hàng nhỏ thời gian qua đạt mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm ngân hàng lớn vì vốn điều lệ và dư nợ thấp, nên đạt tốc độ tăng trưởng cao dễ hơn.

"Hiện còn nhiều biến động kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, ngân hàng lớn khan hiếm khách hàng và chưa có ý định xuống những phân khúc thấp hơn, mà vẫn duy trì những phân khúc cao. Chính vì thế, mức độ an toàn của họ lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng có xu hướng chậm lại. Có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, từ mức cao bị rớt xuống thấp, không thể vay những ngân hàng lớn. Như vậy, "miếng bánh" của các ngân hàng nhỏ lại to lên" - ông Huân lý giải.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia này, với các chính sách cởi mở của Chính phủ, như Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân, sức khỏe doanh nghiệp được kỳ vọng cải thiện.

Nếu ngân hàng nhỏ biết tận dụng cơ hội, chăm sóc tốt khách hàng mới, họ có thể duy trì thị phần nhờ độ trung thành nhất định của khách hàng. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cải thiện dịch vụ cũng giúp các ngân hàng nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Ảnh: T.L.

Cùng chung quan điểm, ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngành ngân hàng cho rằng, do bối cảnh kinh tế còn tồn tại nhiều thách thức, khi điều kiện kinh doanh và cấu trúc thị trường thay đổi, ngân hàng nhỏ tìm được phân khúc khách hàng tiềm năng, đơn cử chỉ cần thêm 1% doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng đủ tạo ra động lực tăng trưởng thị phần đáng kể.

Hơn nữa, ngân hàng nhỏ có tổng dư nợ khoảng 200.000 tỷ đồng thì tăng trưởng 20% không quá khó; trong khi những ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank với dư nợ 2 triệu tỷ đồng, chỉ cần tăng 10% tương đương 200.000 tỷ đồng thì áp lực lớn hơn nhiều.

Cũng theo ông Ân, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ thường bất lợi hơn so với các nhóm ngân hàng khác và thường phải tìm kiếm tăng trưởng theo những “ngách” riêng. Chẳng hạn, có những ngân hàng chuyên phục vụ một khu vực địa lý như miền Tây, Duyên hải miền Trung, hoặc có nhóm tập trung vào mảng cho vay tiêu dùng, nhóm khách hàng cá nhân được xếp hạng ở mức độ thấp.

"Do chọn các "ngách" nhỏ như vậy nên thông thường, những ngân hàng này khó duy trì tăng trưởng ổn định, trong lịch sử cũng tăng trưởng cũng sẽ thấp hơn ba nhóm còn lại, kết quả kinh doanh của họ cũng sẽ kém hơn. Họ cũng không có nhiều quyền chọn khách hàng" - ông Ân lý giải.

Theo ông Ân, hiện tình kinh kinh doanh còn nhiều khó khăn, nhiều khách hàng tìm đến nhà băng quy mô nhỏ sau khi đã bị từ chối ở các ngân hàng khác, dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn, đồng nghĩa rủi ro tín dụng cũng cao hơn.

Do đó, biên lãi ròng (NIM) và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) thường thấp hơn bình quân của ngành (khoảng 20%) do khách hàng ít sử dụng sản phẩm dịch vụ đi kèm như: tiền gửi không kỳ hạn hay Internet Banking. Điều này làm hạn chế khả năng tạo nguồn vốn giá rẻ, kéo theo mức sinh lời thấp, NIM thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80