Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khác với các kỳ trước, nhóm ngân hàng quy mô "hạt tiêu" phát triển bứt tốc, với lợi nhuận trước thuế bình quân tăng 27,5%, nhiều trường hợp tăng bằng lần; tín dụng nhiều nhà băng tăng hai chữ số, tiến sát mục tiêu năm. Chiến lược ngách và khai thác “miếng bánh” khối lớn bỏ ngỏ giúp các nhà băng biến thách thức thành cơ hội.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Thống kê cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, nhóm các ngân hàng có quy mô tài sản dưới 300 nghìn tỷ đồng cùng dư nợ cho vay khách hàng dưới 200 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2024 đã ghi nhận nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực sau nửa đầu năm 2025. Theo đó, có 8/12 ngân hàng tăng tổng tài sản vượt mức bình quân 9,1%; lợi nhuận sau thuế tăng mạnh, có nơi tăng bằng lần và nằm trong nhóm cao nhất toàn ngành.

Nhiều ngân hàng nhỏ dẫn "sóng" lợi nhuận

Bức tranh lợi nhuận nhóm ngân hàng này nửa đầu 2025 khá sáng, với lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và cao hơn khối ngân hàng niêm yết (16,1%), được “kéo” nhờ đẩy mạnh tín dụng vừa tăng thu ngoài lãi, lợi nhuận bật mạnh rõ rệt.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đơn cử, chỉ tiêu cho vay khách hàng của NCB tăng 22%, gần cán mốc mục tiêu đề ra và góp phần giúp lãi thuần tăng 155,3% cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế NCB bùng nổ 6.343% lên 462,9 tỷ đồng, nhờ mức nền thấp cùng kỳ và cải thiện chất lượng tài sản.

ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng vọt trên 200% nhờ vận hành “hai động cơ”, đó là thu nhập lãi thuần tăng 20,6% lên 1.765 tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi bứt phá 141%, lên 1.910,5 tỷ đồng.

Lãi trước thuế tăng bình quân 27,5%, có ngân hàng tăng bằng lần

Thống kê cho thấy nhóm ngân hàng nhỏ đang tăng tốc. Sau 6 tháng đầu năm 2025, 8/12 nhà băng mở rộng tài sản vượt ngưỡng 9,1% bình quân; lợi nhuận sau thuế bứt phá nhờ hai "động cơ” lãi thuần và nguồn thu ngoài lãi, đưa lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 27,5% và giúp một số ngân hàng lọt nhóm tăng trưởng mạnh nhất thị trường.

PGBank cũng tăng khả quan nhờ lãi thuần tăng 16%, các khoản thu ngoài lãi tăng đột biến 720,6% lên 143,4 tỷ đồng, kéo lợi nhuận ngân hàng tăng mạnh gần 35%.

Theo đại diện PGBank, danh mục đầu tư của ngân hàng mở rộng, ngoài trái phiếu Chính phủ còn bổ sung chứng chỉ tiền gửi, qua đó thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng. Thu nhập ngoài lãi tăng chủ yếu nhờ tăng thu từ hoạt động giải ngân và kinh doanh ngoại tệ; mảng bảo lãnh và bảo hiểm ghi nhận mức tăng nhẹ.

VietBank cũng ghi nhận tăng trưởng đồng pha của các chỉ tiêu cho vay khách hàng, lãi thuần, thu ngoài lãi cũng tích cực tăng 25,3% nên lợi nhuận tăng tương ứng, lên 514,3 tỷ đồng.

Trong nhóm này, chỉ duy nhất OCB giảm về lợi nhuận trước thuế so với cùng kỳ, khi đạt khoảng 1.893 tỷ đồng, giảm 10,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do dự phòng tăng 51% quý II, cùng lãi sụt giảm quý đầu năm lên tới 26%.

Về tăng trưởng cho vay khách hàng, dẫn đầu là NCB 86.834,6 tỷ đồng, tăng 22% so với cuối năm 2024 lên gần 87.000 tỷ đồng, góp phần giúp tổng tài sản tăng 21,6%, cao thứ hai toàn ngành và vượt 6,3% so với mức kế hoạch cả năm 2025 (135.500 tỷ đồng). Kế đến là ABBank tăng 16% dư nợ cho vay lên 114.534,5 tỷ đồng; NamABank tăng 14,7% lên 192.466,3 tỷ đồng...

Nhóm tăng quanh 9 - 10% tương đương trung bình ngành gồm: OCB tăng 9,1% lên 186.333,1 tỷ đồng; VietBank tăng 9,4% lên 102.447,5 tỷ đồng... Ngoại lệ là Saigonbank giảm dư nợ cho vay khách hàng 7,2% cùng kỳ, giảm còn 20.261,0 tỷ đồng. Dù vậy, điểm đáng thú vị là lãi thuần vẫn duy trì đà tăng 10,2% và lợi nhuận vẫn tăng 5%, hàm ý ngân hàng cơ cấu lại tài sản sinh lãi và tận dụng ngoài lãi 105,2% để giữ tăng trưởng lợi nhuận.

Ngân hàng nhỏ chọn chiến lược “ngách”, chớp cơ hội

Lý giải sự bứt tốc của nhóm ngân hàng quy mô nhỏ nửa đầu năm 2025, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, ngân hàng nhỏ thời gian qua đạt mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm ngân hàng lớn vì vốn điều lệ và dư nợ thấp, nên đạt tốc độ tăng trưởng cao dễ hơn.

"Hiện còn nhiều biến động kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, ngân hàng lớn khan hiếm khách hàng và chưa có ý định xuống những phân khúc thấp hơn, mà vẫn duy trì những phân khúc cao. Chính vì thế, mức độ an toàn của họ lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng có xu hướng chậm lại. Có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, từ mức cao bị rớt xuống thấp, không thể vay những ngân hàng lớn. Như vậy, "miếng bánh" của các ngân hàng nhỏ lại to lên" - ông Huân lý giải.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia này, với các chính sách cởi mở của Chính phủ, như Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân, sức khỏe doanh nghiệp được kỳ vọng cải thiện.

Nếu ngân hàng nhỏ biết tận dụng cơ hội, chăm sóc tốt khách hàng mới, họ có thể duy trì thị phần nhờ độ trung thành nhất định của khách hàng. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cải thiện dịch vụ cũng giúp các ngân hàng nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giải mã đà tăng trưởng bứt tốc của nhiều ngân hàng “hạt tiêu” nửa đầu năm
Ảnh: T.L.

Cùng chung quan điểm, ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngành ngân hàng cho rằng, do bối cảnh kinh tế còn tồn tại nhiều thách thức, khi điều kiện kinh doanh và cấu trúc thị trường thay đổi, ngân hàng nhỏ tìm được phân khúc khách hàng tiềm năng, đơn cử chỉ cần thêm 1% doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng đủ tạo ra động lực tăng trưởng thị phần đáng kể.

Hơn nữa, ngân hàng nhỏ có tổng dư nợ khoảng 200.000 tỷ đồng thì tăng trưởng 20% không quá khó; trong khi những ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank với dư nợ 2 triệu tỷ đồng, chỉ cần tăng 10% tương đương 200.000 tỷ đồng thì áp lực lớn hơn nhiều.

Cũng theo ông Ân, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ thường bất lợi hơn so với các nhóm ngân hàng khác và thường phải tìm kiếm tăng trưởng theo những “ngách” riêng. Chẳng hạn, có những ngân hàng chuyên phục vụ một khu vực địa lý như miền Tây, Duyên hải miền Trung, hoặc có nhóm tập trung vào mảng cho vay tiêu dùng, nhóm khách hàng cá nhân được xếp hạng ở mức độ thấp.

"Do chọn các "ngách" nhỏ như vậy nên thông thường, những ngân hàng này khó duy trì tăng trưởng ổn định, trong lịch sử cũng tăng trưởng cũng sẽ thấp hơn ba nhóm còn lại, kết quả kinh doanh của họ cũng sẽ kém hơn. Họ cũng không có nhiều quyền chọn khách hàng" - ông Ân lý giải.

Theo ông Ân, hiện tình kinh kinh doanh còn nhiều khó khăn, nhiều khách hàng tìm đến nhà băng quy mô nhỏ sau khi đã bị từ chối ở các ngân hàng khác, dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn, đồng nghĩa rủi ro tín dụng cũng cao hơn.

Do đó, biên lãi ròng (NIM) và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) thường thấp hơn bình quân của ngành (khoảng 20%) do khách hàng ít sử dụng sản phẩm dịch vụ đi kèm như: tiền gửi không kỳ hạn hay Internet Banking. Điều này làm hạn chế khả năng tạo nguồn vốn giá rẻ, kéo theo mức sinh lời thấp, NIM thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17627 17899 18480
CAD 17975 18250 18865
CHF 31828 32209 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29312 29533 30608
GBP 33912 34301 35232
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14545 15132
SGD 19765 20046 20621
THB 704 767 820
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26151 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80