Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành Ngân hàng đang bước vào cuộc đua nâng chuẩn an toàn vốn, khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu có thể tăng lên 10,5% theo quy định mới. Áp lực ngày càng rõ nét với các ngân hàng có CAR thấp hoặc suy giảm gần đây, buộc ngân hàng phải đối mặt áp lực "kép" tăng vốn cùng tái cơ cấu danh mục tài sản.
aa
Ban hành Thông tư mới về tỷ lệ an toàn vốn CAR, thêm điều kiện chia cổ tức tiền mặt Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Ngân hàng dưới áp lực "kép"

Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9 tới đây, thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 41).

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT cho rằng, Thông tư mới đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo đó, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ phải duy trì tổng CAR ít nhất 10,5% (so với mức 8% hiện tại). Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng giai đoạn kinh tế.

Cũng theo quy định mới, lộ trình áp dụng được giãn dần, mỗi năm tăng thêm 0,625% CCB để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn

"Về góc độ đầu tư, việc tăng vốn có thể tạo ra rủi ro pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng lại giúp củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Ngân hàng nào chủ động tăng vốn sớm, triển khai hiệu quả và duy trì CAR vững chắc sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt, cả về năng lực cho vay lẫn khả năng ứng phó rủi ro. Do đó, nhà đầu tư nên tập trung theo dõi kế hoạch tăng vốn, thời điểm thực hiện và định hướng sử dụng vốn để đánh giá lại tiềm năng tăng giá cổ phiếu từng ngân hàng trong giai đoạn 2025 - 2030" - ông Bùi Văn Huy nhận định.

Nhìn lại toàn cảnh hệ số CAR ngành Ngân hàng, theo ông Bùi Văn Huy, tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 12,5%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng quốc doanh hiện duy trì CAR quanh mức 10% hoặc thấp hơn, trong khi yêu cầu mới theo Thông tư 14 tối thiểu 10,5%.

"Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân có CAR trên 12 - 15%, nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thậm chí vượt 20%. Điều này cho thấy áp lực tăng vốn trong các năm tới là rất lớn, đặc biệt với các ngân hàng vốn nhà nước" - ông Huy đánh giá.

Để đáp ứng yêu cầu mới, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, về cơ bản, các ngân hàng cần tái cấu trúc toàn diện, đặc biệt là cơ cấu tài sản.

"CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có với tài sản có rủi ro, do đó, để cải thiện hệ số này, ngân hàng cần tăng tử số (vốn tự có) và/hoặc giảm mẫu số (tài sản có rủi ro). Các loại tài sản được xếp vào nhóm có rủi ro và nhóm an toàn đã được quy định rõ. Vì vậy, việc cơ cấu lại danh mục tài sản và đẩy mạnh tăng vốn là điều cần thiết" - ông Huân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng vốn một cách mạnh mẽ. Đây là xu hướng chắc chắn sẽ tiếp tục để các ngân hàng duy trì và nâng cao hệ số CAR.

CAR sụt giảm tại nhiều ngân hàng, áp lực tăng vốn ngày càng rõ nét

Thống kê của phóng viên cho thấy, tỷ lệ CAR của các ngân hàng năm 2024 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét, phản ánh áp lực trong việc cân đối giữa tăng trưởng tài sản rủi ro và năng lực bổ sung vốn tự có.

Theo đó, có 9/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận sự sụt giảm hệ số CAR, trong đó giảm mạnh nhất là Saigonbank giảm 2,9 điểm phần trăm, đây cũng là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây; PGBank giảm 1,98 điểm phần trăm còn 10,01%..., cho thấy tăng trưởng tài sản rủi ro vượt xa tốc độ cải thiện vốn tự có. Đây là tín hiệu cần lưu ý trong bối cảnh lộ trình áp dụng chuẩn CAR mới từ Thông tư 14 đang đến gần.

Ngay cả một số ngân hàng lớn cũng không tránh khỏi xu hướng này. Cuối năm 2024, CAR của một "ông lớn" ngân hàng tư nhân giảm 1,67 điểm phần trăm trên báo cáo hợp nhất, xuống còn 15,5%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng mạnh 18% (từ 821.124 tỷ đồng lên 966.508 tỷ đồng), trong khi vốn tự có chỉ tăng khoảng 6% (từ 141.024 tỷ đồng lên 149.780 tỷ đồng), qua đó, kéo hệ số CAR suy giảm. Dù vậy, đây vẫn là nhà băng đứng top đầu hệ thống về hệ số CAR.

Trường hợp của Sacombank cũng cho thấy những hạn chế trong cải thiện CAR do vẫn đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, khiến việc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào sự phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Dù vốn tự có hợp nhất năm 2024 ghi nhận mức tăng ấn tượng 18,3%, đạt 62.668 tỷ đồng, nhưng CAR chỉ nhích từ 9,11% lên 10,14% và vẫn nằm trong nhóm 5 nhà băng có tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất toàn hệ thống.

Tính trong 5 năm giai đoạn 2020 - 2024, cũng có 4 ngân hàng giảm CAR. Một số ngân hàng lớn cải thiện nhẹ dù quy mô tài sản mở rộng mạnh, như: Vietcombank (tăng 2,6 điểm phần trăm), BIDV (tăng 0,42 điểm phần trăm), VietinBank (tăng 0,23 điểm phần trăm giai đoạn 2021 - 2024 vì năm 2020 không công bố), song đều thấp hơn 10%.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia S&I Ratings, Thông tư 14 đánh dấu bước tiến quan trọng đưa ngành Ngân hàng tiến gần hơn đến Basel III, nhằm củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro. Dù vậy, Thông tư 14 sẽ tạo áp lực tăng vốn với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn có tỷ lệ CAR khá thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn.

Thẳng thắn chỉ rõ tốc độ cải thiện CAR nhóm "Big 4" chậm, theo ông Bùi Văn Huy, trong 5 năm, BIDV chỉ tăng CAR khoảng 0,42 điểm phần trăm, VietinBank cũng tăng chưa tương xứng với tốc độ mở rộng tài sản. Để đáp ứng chuẩn vốn mới và duy trì tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn.

Đơn cử, Vietcombank dự kiến phát hành riêng lẻ 6,5% vốn, thu về khoảng 1 tỷ USD; BIDV chào bán 123,8 triệu cổ phiếu, thu 4.803 tỷ đồng, giúp CAR lên xấp xỉ 10%; VietinBank giữ lại toàn bộ lợi nhuận để bổ sung vốn; Agribank có khả năng chuẩn bị IPO nhằm tăng vốn chủ sở hữu./.

"So kè" năng lực CAR giữa các nhóm ngân hàng

Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố, đến cuối tháng 11/2024, khối ngân hàng thương mại nhà nước đạt tổng tài sản có hơn 9,17 triệu tỷ đồng, tăng 10,16% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ tăng 2,92%, lên mức 224.252 tỷ đồng, cho thấy năng lực bổ sung vốn vẫn hạn chế so với tốc độ mở rộng tài sản, có thể ảnh hưởng đến hệ số CAR và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn
Nguồn: Phóng viên tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, với các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư 41, vốn tự có đạt hơn 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với cuối năm trước, CAR bình quân đạt 12,51%.

Trong đó, nhóm ngân hàng nhà nước ghi nhận vốn tự có đạt 754.743 tỷ đồng, tăng 15,71%, cao hơn trung bình toàn hệ thống. Dù vậy, tỷ lệ CAR chỉ đạt 10,57%, thấp nhất trong 3 nhóm, cho thấy hệ số an toàn vốn vẫn còn khá "mong manh" so với quy mô tài sản khổng lồ và vai trò trụ cột về cung ứng tín dụng trong nền kinh tế.

Khối ngân hàng tư nhân đạt 1,032 triệu tỷ đồng vốn tự có, tăng 14,23%, tương ứng với CAR 12,21%, cao hơn đáng kể nhóm quốc doanh. Điều này cũng cho thấy lợi thế linh hoạt của nhóm ngân hàng tư nhân khả năng tăng vốn nhờ phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu...

Đáng chú ý, khối ngân hàng nước ngoài nổi bật với "lá chắn" CAR lên tới 23,27%, gần gấp đôi toàn hệ thống. Vốn tự có đạt 354.306 tỷ đồng, tăng 18,27%, mức tăng cao nhất trong 3 nhóm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,700 143,200
Hà Nội - PNJ 139,700 143,200
Đà Nẵng - PNJ 139,700 143,200
Miền Tây - PNJ 139,700 143,200
Tây Nguyên - PNJ 139,700 143,200
Đông Nam Bộ - PNJ 139,700 143,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 14,330
Miếng SJC Nghệ An 14,030 14,330
Miếng SJC Thái Bình 14,030 14,330
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,000 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,000 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,000 14,400
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 14,332
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 14,333
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 1,428
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,368 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,901 139,901
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,336 106,136
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,444 96,244
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,552 86,352
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,736 82,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,278 59,078
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cập nhật: 15/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17961 18236 18812
CAD 18289 18565 19185
CHF 31499 31879 32535
CNY 0 3830 3940
EUR 29575 29796 30880
GBP 34559 34951 35889
HKD 0 3200 3403
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15065 15655
SGD 19899 20181 20753
THB 704 767 820
USD (1,2) 25878 0 0
USD (5,10,20) 25918 0 0
USD (50,100) 25946 25980 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 15/08/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80