Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành Ngân hàng đang bước vào cuộc đua nâng chuẩn an toàn vốn, khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu có thể tăng lên 10,5% theo quy định mới. Áp lực ngày càng rõ nét với các ngân hàng có CAR thấp hoặc suy giảm gần đây, buộc ngân hàng phải đối mặt áp lực "kép" tăng vốn cùng tái cơ cấu danh mục tài sản.
aa
Ban hành Thông tư mới về tỷ lệ an toàn vốn CAR, thêm điều kiện chia cổ tức tiền mặt Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Ngân hàng dưới áp lực "kép"

Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9 tới đây, thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 41).

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT cho rằng, Thông tư mới đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo đó, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ phải duy trì tổng CAR ít nhất 10,5% (so với mức 8% hiện tại). Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng giai đoạn kinh tế.

Cũng theo quy định mới, lộ trình áp dụng được giãn dần, mỗi năm tăng thêm 0,625% CCB để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn

"Về góc độ đầu tư, việc tăng vốn có thể tạo ra rủi ro pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng lại giúp củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Ngân hàng nào chủ động tăng vốn sớm, triển khai hiệu quả và duy trì CAR vững chắc sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt, cả về năng lực cho vay lẫn khả năng ứng phó rủi ro. Do đó, nhà đầu tư nên tập trung theo dõi kế hoạch tăng vốn, thời điểm thực hiện và định hướng sử dụng vốn để đánh giá lại tiềm năng tăng giá cổ phiếu từng ngân hàng trong giai đoạn 2025 - 2030" - ông Bùi Văn Huy nhận định.

Nhìn lại toàn cảnh hệ số CAR ngành Ngân hàng, theo ông Bùi Văn Huy, tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 12,5%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng quốc doanh hiện duy trì CAR quanh mức 10% hoặc thấp hơn, trong khi yêu cầu mới theo Thông tư 14 tối thiểu 10,5%.

"Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân có CAR trên 12 - 15%, nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thậm chí vượt 20%. Điều này cho thấy áp lực tăng vốn trong các năm tới là rất lớn, đặc biệt với các ngân hàng vốn nhà nước" - ông Huy đánh giá.

Để đáp ứng yêu cầu mới, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, về cơ bản, các ngân hàng cần tái cấu trúc toàn diện, đặc biệt là cơ cấu tài sản.

"CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có với tài sản có rủi ro, do đó, để cải thiện hệ số này, ngân hàng cần tăng tử số (vốn tự có) và/hoặc giảm mẫu số (tài sản có rủi ro). Các loại tài sản được xếp vào nhóm có rủi ro và nhóm an toàn đã được quy định rõ. Vì vậy, việc cơ cấu lại danh mục tài sản và đẩy mạnh tăng vốn là điều cần thiết" - ông Huân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng vốn một cách mạnh mẽ. Đây là xu hướng chắc chắn sẽ tiếp tục để các ngân hàng duy trì và nâng cao hệ số CAR.

CAR sụt giảm tại nhiều ngân hàng, áp lực tăng vốn ngày càng rõ nét

Thống kê của phóng viên cho thấy, tỷ lệ CAR của các ngân hàng năm 2024 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét, phản ánh áp lực trong việc cân đối giữa tăng trưởng tài sản rủi ro và năng lực bổ sung vốn tự có.

Theo đó, có 9/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận sự sụt giảm hệ số CAR, trong đó giảm mạnh nhất là Saigonbank giảm 2,9 điểm phần trăm, đây cũng là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây; PGBank giảm 1,98 điểm phần trăm còn 10,01%..., cho thấy tăng trưởng tài sản rủi ro vượt xa tốc độ cải thiện vốn tự có. Đây là tín hiệu cần lưu ý trong bối cảnh lộ trình áp dụng chuẩn CAR mới từ Thông tư 14 đang đến gần.

Ngay cả một số ngân hàng lớn cũng không tránh khỏi xu hướng này. Cuối năm 2024, CAR của một "ông lớn" ngân hàng tư nhân giảm 1,67 điểm phần trăm trên báo cáo hợp nhất, xuống còn 15,5%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng mạnh 18% (từ 821.124 tỷ đồng lên 966.508 tỷ đồng), trong khi vốn tự có chỉ tăng khoảng 6% (từ 141.024 tỷ đồng lên 149.780 tỷ đồng), qua đó, kéo hệ số CAR suy giảm. Dù vậy, đây vẫn là nhà băng đứng top đầu hệ thống về hệ số CAR.

Trường hợp của Sacombank cũng cho thấy những hạn chế trong cải thiện CAR do vẫn đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, khiến việc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào sự phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Dù vốn tự có hợp nhất năm 2024 ghi nhận mức tăng ấn tượng 18,3%, đạt 62.668 tỷ đồng, nhưng CAR chỉ nhích từ 9,11% lên 10,14% và vẫn nằm trong nhóm 5 nhà băng có tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất toàn hệ thống.

Tính trong 5 năm giai đoạn 2020 - 2024, cũng có 4 ngân hàng giảm CAR. Một số ngân hàng lớn cải thiện nhẹ dù quy mô tài sản mở rộng mạnh, như: Vietcombank (tăng 2,6 điểm phần trăm), BIDV (tăng 0,42 điểm phần trăm), VietinBank (tăng 0,23 điểm phần trăm giai đoạn 2021 - 2024 vì năm 2020 không công bố), song đều thấp hơn 10%.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia S&I Ratings, Thông tư 14 đánh dấu bước tiến quan trọng đưa ngành Ngân hàng tiến gần hơn đến Basel III, nhằm củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro. Dù vậy, Thông tư 14 sẽ tạo áp lực tăng vốn với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn có tỷ lệ CAR khá thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn.

Thẳng thắn chỉ rõ tốc độ cải thiện CAR nhóm "Big 4" chậm, theo ông Bùi Văn Huy, trong 5 năm, BIDV chỉ tăng CAR khoảng 0,42 điểm phần trăm, VietinBank cũng tăng chưa tương xứng với tốc độ mở rộng tài sản. Để đáp ứng chuẩn vốn mới và duy trì tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn.

Đơn cử, Vietcombank dự kiến phát hành riêng lẻ 6,5% vốn, thu về khoảng 1 tỷ USD; BIDV chào bán 123,8 triệu cổ phiếu, thu 4.803 tỷ đồng, giúp CAR lên xấp xỉ 10%; VietinBank giữ lại toàn bộ lợi nhuận để bổ sung vốn; Agribank có khả năng chuẩn bị IPO nhằm tăng vốn chủ sở hữu./.

"So kè" năng lực CAR giữa các nhóm ngân hàng

Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố, đến cuối tháng 11/2024, khối ngân hàng thương mại nhà nước đạt tổng tài sản có hơn 9,17 triệu tỷ đồng, tăng 10,16% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ tăng 2,92%, lên mức 224.252 tỷ đồng, cho thấy năng lực bổ sung vốn vẫn hạn chế so với tốc độ mở rộng tài sản, có thể ảnh hưởng đến hệ số CAR và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn
Nguồn: Phóng viên tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, với các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư 41, vốn tự có đạt hơn 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với cuối năm trước, CAR bình quân đạt 12,51%.

Trong đó, nhóm ngân hàng nhà nước ghi nhận vốn tự có đạt 754.743 tỷ đồng, tăng 15,71%, cao hơn trung bình toàn hệ thống. Dù vậy, tỷ lệ CAR chỉ đạt 10,57%, thấp nhất trong 3 nhóm, cho thấy hệ số an toàn vốn vẫn còn khá "mong manh" so với quy mô tài sản khổng lồ và vai trò trụ cột về cung ứng tín dụng trong nền kinh tế.

Khối ngân hàng tư nhân đạt 1,032 triệu tỷ đồng vốn tự có, tăng 14,23%, tương ứng với CAR 12,21%, cao hơn đáng kể nhóm quốc doanh. Điều này cũng cho thấy lợi thế linh hoạt của nhóm ngân hàng tư nhân khả năng tăng vốn nhờ phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu...

Đáng chú ý, khối ngân hàng nước ngoài nổi bật với "lá chắn" CAR lên tới 23,27%, gần gấp đôi toàn hệ thống. Vốn tự có đạt 354.306 tỷ đồng, tăng 18,27%, mức tăng cao nhất trong 3 nhóm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80