Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành Ngân hàng đang bước vào cuộc đua nâng chuẩn an toàn vốn, khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu có thể tăng lên 10,5% theo quy định mới. Áp lực ngày càng rõ nét với các ngân hàng có CAR thấp hoặc suy giảm gần đây, buộc ngân hàng phải đối mặt áp lực "kép" tăng vốn cùng tái cơ cấu danh mục tài sản.
aa
Ban hành Thông tư mới về tỷ lệ an toàn vốn CAR, thêm điều kiện chia cổ tức tiền mặt Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Ngân hàng dưới áp lực "kép"

Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9 tới đây, thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 41).

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT cho rằng, Thông tư mới đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo đó, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ phải duy trì tổng CAR ít nhất 10,5% (so với mức 8% hiện tại). Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng giai đoạn kinh tế.

Cũng theo quy định mới, lộ trình áp dụng được giãn dần, mỗi năm tăng thêm 0,625% CCB để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn

"Về góc độ đầu tư, việc tăng vốn có thể tạo ra rủi ro pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng lại giúp củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Ngân hàng nào chủ động tăng vốn sớm, triển khai hiệu quả và duy trì CAR vững chắc sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt, cả về năng lực cho vay lẫn khả năng ứng phó rủi ro. Do đó, nhà đầu tư nên tập trung theo dõi kế hoạch tăng vốn, thời điểm thực hiện và định hướng sử dụng vốn để đánh giá lại tiềm năng tăng giá cổ phiếu từng ngân hàng trong giai đoạn 2025 - 2030" - ông Bùi Văn Huy nhận định.

Nhìn lại toàn cảnh hệ số CAR ngành Ngân hàng, theo ông Bùi Văn Huy, tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 12,5%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng quốc doanh hiện duy trì CAR quanh mức 10% hoặc thấp hơn, trong khi yêu cầu mới theo Thông tư 14 tối thiểu 10,5%.

"Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân có CAR trên 12 - 15%, nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thậm chí vượt 20%. Điều này cho thấy áp lực tăng vốn trong các năm tới là rất lớn, đặc biệt với các ngân hàng vốn nhà nước" - ông Huy đánh giá.

Để đáp ứng yêu cầu mới, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, về cơ bản, các ngân hàng cần tái cấu trúc toàn diện, đặc biệt là cơ cấu tài sản.

"CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có với tài sản có rủi ro, do đó, để cải thiện hệ số này, ngân hàng cần tăng tử số (vốn tự có) và/hoặc giảm mẫu số (tài sản có rủi ro). Các loại tài sản được xếp vào nhóm có rủi ro và nhóm an toàn đã được quy định rõ. Vì vậy, việc cơ cấu lại danh mục tài sản và đẩy mạnh tăng vốn là điều cần thiết" - ông Huân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng vốn một cách mạnh mẽ. Đây là xu hướng chắc chắn sẽ tiếp tục để các ngân hàng duy trì và nâng cao hệ số CAR.

CAR sụt giảm tại nhiều ngân hàng, áp lực tăng vốn ngày càng rõ nét

Thống kê của phóng viên cho thấy, tỷ lệ CAR của các ngân hàng năm 2024 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét, phản ánh áp lực trong việc cân đối giữa tăng trưởng tài sản rủi ro và năng lực bổ sung vốn tự có.

Theo đó, có 9/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận sự sụt giảm hệ số CAR, trong đó giảm mạnh nhất là Saigonbank giảm 2,9 điểm phần trăm, đây cũng là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây; PGBank giảm 1,98 điểm phần trăm còn 10,01%..., cho thấy tăng trưởng tài sản rủi ro vượt xa tốc độ cải thiện vốn tự có. Đây là tín hiệu cần lưu ý trong bối cảnh lộ trình áp dụng chuẩn CAR mới từ Thông tư 14 đang đến gần.

Ngay cả một số ngân hàng lớn cũng không tránh khỏi xu hướng này. Cuối năm 2024, CAR của một "ông lớn" ngân hàng tư nhân giảm 1,67 điểm phần trăm trên báo cáo hợp nhất, xuống còn 15,5%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng mạnh 18% (từ 821.124 tỷ đồng lên 966.508 tỷ đồng), trong khi vốn tự có chỉ tăng khoảng 6% (từ 141.024 tỷ đồng lên 149.780 tỷ đồng), qua đó, kéo hệ số CAR suy giảm. Dù vậy, đây vẫn là nhà băng đứng top đầu hệ thống về hệ số CAR.

Trường hợp của Sacombank cũng cho thấy những hạn chế trong cải thiện CAR do vẫn đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, khiến việc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào sự phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Dù vốn tự có hợp nhất năm 2024 ghi nhận mức tăng ấn tượng 18,3%, đạt 62.668 tỷ đồng, nhưng CAR chỉ nhích từ 9,11% lên 10,14% và vẫn nằm trong nhóm 5 nhà băng có tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất toàn hệ thống.

Tính trong 5 năm giai đoạn 2020 - 2024, cũng có 4 ngân hàng giảm CAR. Một số ngân hàng lớn cải thiện nhẹ dù quy mô tài sản mở rộng mạnh, như: Vietcombank (tăng 2,6 điểm phần trăm), BIDV (tăng 0,42 điểm phần trăm), VietinBank (tăng 0,23 điểm phần trăm giai đoạn 2021 - 2024 vì năm 2020 không công bố), song đều thấp hơn 10%.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia S&I Ratings, Thông tư 14 đánh dấu bước tiến quan trọng đưa ngành Ngân hàng tiến gần hơn đến Basel III, nhằm củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro. Dù vậy, Thông tư 14 sẽ tạo áp lực tăng vốn với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn có tỷ lệ CAR khá thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn.

Thẳng thắn chỉ rõ tốc độ cải thiện CAR nhóm "Big 4" chậm, theo ông Bùi Văn Huy, trong 5 năm, BIDV chỉ tăng CAR khoảng 0,42 điểm phần trăm, VietinBank cũng tăng chưa tương xứng với tốc độ mở rộng tài sản. Để đáp ứng chuẩn vốn mới và duy trì tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn.

Đơn cử, Vietcombank dự kiến phát hành riêng lẻ 6,5% vốn, thu về khoảng 1 tỷ USD; BIDV chào bán 123,8 triệu cổ phiếu, thu 4.803 tỷ đồng, giúp CAR lên xấp xỉ 10%; VietinBank giữ lại toàn bộ lợi nhuận để bổ sung vốn; Agribank có khả năng chuẩn bị IPO nhằm tăng vốn chủ sở hữu./.

"So kè" năng lực CAR giữa các nhóm ngân hàng

Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố, đến cuối tháng 11/2024, khối ngân hàng thương mại nhà nước đạt tổng tài sản có hơn 9,17 triệu tỷ đồng, tăng 10,16% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ tăng 2,92%, lên mức 224.252 tỷ đồng, cho thấy năng lực bổ sung vốn vẫn hạn chế so với tốc độ mở rộng tài sản, có thể ảnh hưởng đến hệ số CAR và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn
Nguồn: Phóng viên tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, với các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư 41, vốn tự có đạt hơn 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với cuối năm trước, CAR bình quân đạt 12,51%.

Trong đó, nhóm ngân hàng nhà nước ghi nhận vốn tự có đạt 754.743 tỷ đồng, tăng 15,71%, cao hơn trung bình toàn hệ thống. Dù vậy, tỷ lệ CAR chỉ đạt 10,57%, thấp nhất trong 3 nhóm, cho thấy hệ số an toàn vốn vẫn còn khá "mong manh" so với quy mô tài sản khổng lồ và vai trò trụ cột về cung ứng tín dụng trong nền kinh tế.

Khối ngân hàng tư nhân đạt 1,032 triệu tỷ đồng vốn tự có, tăng 14,23%, tương ứng với CAR 12,21%, cao hơn đáng kể nhóm quốc doanh. Điều này cũng cho thấy lợi thế linh hoạt của nhóm ngân hàng tư nhân khả năng tăng vốn nhờ phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu...

Đáng chú ý, khối ngân hàng nước ngoài nổi bật với "lá chắn" CAR lên tới 23,27%, gần gấp đôi toàn hệ thống. Vốn tự có đạt 354.306 tỷ đồng, tăng 18,27%, mức tăng cao nhất trong 3 nhóm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80