Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành Ngân hàng đang bước vào cuộc đua nâng chuẩn an toàn vốn, khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu có thể tăng lên 10,5% theo quy định mới. Áp lực ngày càng rõ nét với các ngân hàng có CAR thấp hoặc suy giảm gần đây, buộc ngân hàng phải đối mặt áp lực "kép" tăng vốn cùng tái cơ cấu danh mục tài sản.
aa
Ban hành Thông tư mới về tỷ lệ an toàn vốn CAR, thêm điều kiện chia cổ tức tiền mặt Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Ngân hàng dưới áp lực "kép"

Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9 tới đây, thay thế Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 41).

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty FIDT cho rằng, Thông tư mới đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo đó, từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ phải duy trì tổng CAR ít nhất 10,5% (so với mức 8% hiện tại). Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng giai đoạn kinh tế.

Cũng theo quy định mới, lộ trình áp dụng được giãn dần, mỗi năm tăng thêm 0,625% CCB để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn

"Về góc độ đầu tư, việc tăng vốn có thể tạo ra rủi ro pha loãng cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng lại giúp củng cố năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Ngân hàng nào chủ động tăng vốn sớm, triển khai hiệu quả và duy trì CAR vững chắc sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt, cả về năng lực cho vay lẫn khả năng ứng phó rủi ro. Do đó, nhà đầu tư nên tập trung theo dõi kế hoạch tăng vốn, thời điểm thực hiện và định hướng sử dụng vốn để đánh giá lại tiềm năng tăng giá cổ phiếu từng ngân hàng trong giai đoạn 2025 - 2030" - ông Bùi Văn Huy nhận định.

Nhìn lại toàn cảnh hệ số CAR ngành Ngân hàng, theo ông Bùi Văn Huy, tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ đạt khoảng 12,5%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực.

Đặc biệt, nhóm ngân hàng quốc doanh hiện duy trì CAR quanh mức 10% hoặc thấp hơn, trong khi yêu cầu mới theo Thông tư 14 tối thiểu 10,5%.

"Ngược lại, nhiều ngân hàng tư nhân có CAR trên 12 - 15%, nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thậm chí vượt 20%. Điều này cho thấy áp lực tăng vốn trong các năm tới là rất lớn, đặc biệt với các ngân hàng vốn nhà nước" - ông Huy đánh giá.

Để đáp ứng yêu cầu mới, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, về cơ bản, các ngân hàng cần tái cấu trúc toàn diện, đặc biệt là cơ cấu tài sản.

"CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có với tài sản có rủi ro, do đó, để cải thiện hệ số này, ngân hàng cần tăng tử số (vốn tự có) và/hoặc giảm mẫu số (tài sản có rủi ro). Các loại tài sản được xếp vào nhóm có rủi ro và nhóm an toàn đã được quy định rõ. Vì vậy, việc cơ cấu lại danh mục tài sản và đẩy mạnh tăng vốn là điều cần thiết" - ông Huân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng vốn một cách mạnh mẽ. Đây là xu hướng chắc chắn sẽ tiếp tục để các ngân hàng duy trì và nâng cao hệ số CAR.

CAR sụt giảm tại nhiều ngân hàng, áp lực tăng vốn ngày càng rõ nét

Thống kê của phóng viên cho thấy, tỷ lệ CAR của các ngân hàng năm 2024 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét, phản ánh áp lực trong việc cân đối giữa tăng trưởng tài sản rủi ro và năng lực bổ sung vốn tự có.

Theo đó, có 9/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận sự sụt giảm hệ số CAR, trong đó giảm mạnh nhất là Saigonbank giảm 2,9 điểm phần trăm, đây cũng là mức thấp nhất trong vòng 5 năm gần đây; PGBank giảm 1,98 điểm phần trăm còn 10,01%..., cho thấy tăng trưởng tài sản rủi ro vượt xa tốc độ cải thiện vốn tự có. Đây là tín hiệu cần lưu ý trong bối cảnh lộ trình áp dụng chuẩn CAR mới từ Thông tư 14 đang đến gần.

Ngay cả một số ngân hàng lớn cũng không tránh khỏi xu hướng này. Cuối năm 2024, CAR của một "ông lớn" ngân hàng tư nhân giảm 1,67 điểm phần trăm trên báo cáo hợp nhất, xuống còn 15,5%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng mạnh 18% (từ 821.124 tỷ đồng lên 966.508 tỷ đồng), trong khi vốn tự có chỉ tăng khoảng 6% (từ 141.024 tỷ đồng lên 149.780 tỷ đồng), qua đó, kéo hệ số CAR suy giảm. Dù vậy, đây vẫn là nhà băng đứng top đầu hệ thống về hệ số CAR.

Trường hợp của Sacombank cũng cho thấy những hạn chế trong cải thiện CAR do vẫn đang trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu, khiến việc tăng vốn điều lệ phụ thuộc vào sự phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước. Dù vốn tự có hợp nhất năm 2024 ghi nhận mức tăng ấn tượng 18,3%, đạt 62.668 tỷ đồng, nhưng CAR chỉ nhích từ 9,11% lên 10,14% và vẫn nằm trong nhóm 5 nhà băng có tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất toàn hệ thống.

Tính trong 5 năm giai đoạn 2020 - 2024, cũng có 4 ngân hàng giảm CAR. Một số ngân hàng lớn cải thiện nhẹ dù quy mô tài sản mở rộng mạnh, như: Vietcombank (tăng 2,6 điểm phần trăm), BIDV (tăng 0,42 điểm phần trăm), VietinBank (tăng 0,23 điểm phần trăm giai đoạn 2021 - 2024 vì năm 2020 không công bố), song đều thấp hơn 10%.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia S&I Ratings, Thông tư 14 đánh dấu bước tiến quan trọng đưa ngành Ngân hàng tiến gần hơn đến Basel III, nhằm củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro. Dù vậy, Thông tư 14 sẽ tạo áp lực tăng vốn với nhóm ngân hàng quốc doanh vốn có tỷ lệ CAR khá thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn.

Thẳng thắn chỉ rõ tốc độ cải thiện CAR nhóm "Big 4" chậm, theo ông Bùi Văn Huy, trong 5 năm, BIDV chỉ tăng CAR khoảng 0,42 điểm phần trăm, VietinBank cũng tăng chưa tương xứng với tốc độ mở rộng tài sản. Để đáp ứng chuẩn vốn mới và duy trì tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn.

Đơn cử, Vietcombank dự kiến phát hành riêng lẻ 6,5% vốn, thu về khoảng 1 tỷ USD; BIDV chào bán 123,8 triệu cổ phiếu, thu 4.803 tỷ đồng, giúp CAR lên xấp xỉ 10%; VietinBank giữ lại toàn bộ lợi nhuận để bổ sung vốn; Agribank có khả năng chuẩn bị IPO nhằm tăng vốn chủ sở hữu./.

"So kè" năng lực CAR giữa các nhóm ngân hàng

Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố, đến cuối tháng 11/2024, khối ngân hàng thương mại nhà nước đạt tổng tài sản có hơn 9,17 triệu tỷ đồng, tăng 10,16% so với cuối năm trước. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ tăng 2,92%, lên mức 224.252 tỷ đồng, cho thấy năng lực bổ sung vốn vẫn hạn chế so với tốc độ mở rộng tài sản, có thể ảnh hưởng đến hệ số CAR và dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn
Nguồn: Phóng viên tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, với các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư 41, vốn tự có đạt hơn 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với cuối năm trước, CAR bình quân đạt 12,51%.

Trong đó, nhóm ngân hàng nhà nước ghi nhận vốn tự có đạt 754.743 tỷ đồng, tăng 15,71%, cao hơn trung bình toàn hệ thống. Dù vậy, tỷ lệ CAR chỉ đạt 10,57%, thấp nhất trong 3 nhóm, cho thấy hệ số an toàn vốn vẫn còn khá "mong manh" so với quy mô tài sản khổng lồ và vai trò trụ cột về cung ứng tín dụng trong nền kinh tế.

Khối ngân hàng tư nhân đạt 1,032 triệu tỷ đồng vốn tự có, tăng 14,23%, tương ứng với CAR 12,21%, cao hơn đáng kể nhóm quốc doanh. Điều này cũng cho thấy lợi thế linh hoạt của nhóm ngân hàng tư nhân khả năng tăng vốn nhờ phát hành cổ phiếu, huy động trái phiếu...

Đáng chú ý, khối ngân hàng nước ngoài nổi bật với "lá chắn" CAR lên tới 23,27%, gần gấp đôi toàn hệ thống. Vốn tự có đạt 354.306 tỷ đồng, tăng 18,27%, mức tăng cao nhất trong 3 nhóm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼100K 13,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼100K 13,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18488
CAD 17973 18248 18867
CHF 31787 32168 32820
CNY 0 3825 3918
EUR 29282 29502 30589
GBP 33892 34281 35222
HKD 0 3228 3431
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14558 15145
SGD 19770 20052 20628
THB 704 768 821
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17809 17909 18831
CAD 18144 18244 19258
CHF 32013 32043 33625
CNY 3806 3831 3966.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29450 29480 31205
GBP 34163 34213 35974
HKD 0 3355 0
JPY 159.31 159.81 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14667 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 732.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80