Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Tú Anh
(TBTCO) - Dẫn đầu toàn ngành về quy mô tổng tài sản, lợi nhuận cùng tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp song nhóm các ngân hàng quốc doanh "hụt hơi" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ so với nhóm ngân hàng tư nhân. Khó nhọc tăng vốn không chỉ khiến các ngân hàng quốc doanh khó mở rộng hoạt động tín dụng, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức thấp mà còn khó thẳng tiến vào top các ngân hàng lớn trong khu vực.
aa
Trăn trở ngân hàng quốc doanh
Dù dẫn đầu về quy mô tổng tài sản, nguồn vốn... vốn điều lệ của Vietcombank vẫn xếp sau 2 ngân hàng thương mại tư nhân. Ảnh tư liệu

Tăng vốn thần tốc, ngân hàng tư nhân bỏ xa quốc doanh

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XV, Chính phủ đề xuất đầu tư bổ sung vốn nhà nước với số tiền 20.695 tỷ đồng tại Vietcombank thông qua hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu từ nguồn lợi nhuận còn lại lũy kế đến hết năm 2018 và lợi nhuận còn lại sau thuế, sau trích lập các quỹ năm 2021. Vốn điều lệ của Vietcombank sau khi được tăng vốn là 83.557 tỷ đồng. Ngày 4/11 vừa qua, Quốc hội thảo luận ở hội trường về chủ trương này và biểu quyết thông qua vào cuối kỳ họp.

Trăn trở ngân hàng quốc doanh "chậm chân" trong cuộc đua tăng vốn điều lệ

Bó hẹp cho vay khách hàng lớn

Vốn điều lệ, vốn tự có đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển các ngân hàng. Khi cho vay một đối tác và những người có liên quan, ngân hàng không thể cho vay vượt quá 14% hoặc 23% trên vốn tự có, đây là cơ sở giúp tăng trưởng quy mô của ngân hàng. Các ngân hàng lớn có rất nhiều khách hàng lớn, vì thế, nếu không tăng vốn, họ khó có thể hỗ trợ khách hàng. TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế

Dù là ngân hàng dẫn đầu về quy mô về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ suốt nhiều năm qua, tỷ lệ nợ xấu cũng thấp nhất hệ thống nhưng vốn điều lệ của Vietcombank đứng thứ 4 toàn hệ thống, đạt 55.891 tỷ đồng tính đến hết quý III/2024, xếp sau hai ngân hàng thương mại tư nhân khác là VPBank (79.339 tỷ đồng) và Techcombank (70.450 tỷ đồng) có dư nợ, tổng tài sản chưa bằng một nửa Vietcombank. Số vốn điều lệ của Vietcombank cũng thấp hơn một ngân hàng quốc doanh khác là BIDV (hơn 57.004 tỷ đồng).

Việc tăng vốn điều lệ được các ngân hàng quan tâm hàng đầu do đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng giúp tăng quy mô tài sản, mở rộng hoạt động tín dụng và là “bộ đệm” dự phòng cho các ngân hàng. Đến cuối quý III/2024, lợi nhuận chưa phân phối của Vietcombank, VietinBank và BIDV lần lượt ở mức 102.068 tỷ đồng, 57.472 tỷ đồng và 45.499 tỷ đồng, bỏ xa nhóm ngân hàng tư nhân lớn. Điều này cho thấy nhóm các “ông lớn” ngân hàng còn nhiều dư địa để chia cổ tức, tăng vốn điều lệ, thế nhưng, việc tăng vốn các ngân hàng quốc doanh chỉ nhỏ giọt các năm.

Đơn cử, 10 năm trở lại đây, giai đoạn 2015 đến nay, Vietcombank trải qua 5 lần tăng vốn, với mức tăng 3.476 tỷ đồng (năm 2014 - 2015); 9.328 tỷ đồng (năm 2016 - 2018), 1.111 tỷ đồng (năm 2019 - 2021). Tiếp đó, năm 2022 tăng thêm 10.236 tỷ đồng và tăng 8.566 tỷ đồng năm 2023, đưa vốn điều lệ lên 55.891 tỷ đồng.

Khác với ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng tư nhân có những đợt tăng vốn thần tốc. Đơn cử, Techcombank tăng thêm 34.150 tỷ đồng, lên mức 70.450 tỷ đồng nửa đầu năm 2024 thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu từ nguồn lợi nhuận giữ lại. VPBank tăng vốn điều lệ thêm 20.000 tỷ đồng trong hai năm liên tiếp 2021 và 2022 lên mức 79.339 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống.

Thống kê cho thấy cách đây 10 năm, vốn điều lệ của 3 ngân hàng thương mại nhà nước là 98.071 tỷ đồng, chiếm khoảng 35% tổng vốn điều lệ toàn thị trường thì đến nay, tỷ trọng này thu hẹp chỉ còn 25%. Cũng trong giai đoạn này, vốn điều lệ nhóm ngân hàng quốc doanh chỉ tăng 1,7 lần, lên 166.595 tỷ đồng thì nhóm các ngân hàng tư nhân tăng 2,7 lần, lên 512.250 tỷ đồng.

Có thể thấy trước sự vươn mình của một số ngân hàng thương mại tư nhân, các ngân hàng quốc doanh tụt hạng đáng kể trong bảng xếp hạng quy mô vốn điều lệ.

Bó hẹp cho vay, khó vươn tầm khu vực

Nhấn mạnh về nỗ lực tăng vốn của các ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường tài chính - bất động sản Toàn Cầu cho biết, khác với doanh nghiệp, các ngân hàng có xu hướng chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt, để tăng vốn điều lệ để tăng quy mô tín dụng và đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Thực tế cho thấy các ngân hàng quốc doanh hoạt động hiệu quả, quản trị tốt, luôn dẫn đầu về lợi nhuận nhưng tốc độ tăng vốn những năm gần đây gặp khó khăn do các quy định về quản lý vốn của cổ đông nhà nước. Điều này phần nào hạn chế năng lực tài chính và khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng tư nhân liên tục tăng vốn mạnh mẽ thông qua phát hành cổ phiếu từ lợi nhuận giữ lại.

Với tốc độ tăng vốn chậm hơn, tỷ lệ CAR nhóm ngân hàng thương mại nhà nước khá thấp trong bảng xếp hạng, khi Vietcombank đứng thứ 15 với CAR hợp nhất 11,39%; VietinBank xếp thứ 22, BIDV gần đứng chót bảng. Dù vẫn đảm bảo tuân thủ quy định song đây là mức thấp so với các ngân hàng ở Việt Nam cũng như trong khu vực.

Phát biểu tại nghị trường Quốc hội mới đây, đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai tán thành phương án Chính phủ trình, để đảm bảo chỉ số an toàn và sức mạnh cho ngân hàng quốc doanh này. Tuy nhiên, đại biểu quan tâm đến việc ứng xử như thế nào với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước, bởi hiện nay đang có sự tụt hậu về cả về tỷ lệ vốn, chỉ số an toàn vốn so với ngân hàng thương mại tư nhân.

“Tại sao ngân hàng thương mại tư nhân làm tốt nhưng những ngân hàng chúng ta gọi là “anh cả đỏ” lại khó khăn trong việc tăng vốn như vậy” - ông Trịnh Xuân An bày tỏ.

Việc nâng vốn các ngân hàng quốc doanh còn được mong đợi đưa ít nhất 2 - 3 ngân hàng vươn tầm, lọt top 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản khu vực châu Á định hướng đến năm 2030. Khi vẫn khó nhọc tăng vốn điều lệ và vốn tự có của ngân hàng, việc ngân hàng Việt tiến vào top các ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới vẫn là hành trình dài./.

Tú Anh

Đọc thêm

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

(TBTCO) - Dòng vốn cho một kỷ nguyên mới không chỉ cần được khơi thông, mà cần được vận hành trên nền tảng của an toàn, minh bạch và niềm tin. Vietcombank sẵn sàng cùng ngành quản lý quỹ và thị trường vốn Việt Nam kiến tạo nền tảng ấy, hôm nay và cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB lên kế hoạch tăng vốn lần hai trong năm 2026, dự kiến chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng, huy động 9.360 tỷ đồng. Song song, ngân hàng muốn thành lập ngân hàng 100% vốn tại VIFC; mở rộng mảng chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái với hoạt động ngân hàng làm nền tảng cốt lõi.
Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 14,250
Miếng SJC Nghệ An 13,950 14,250
Miếng SJC Thái Bình 13,950 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 14,250
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 14,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 14,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 139,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 105,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 9,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 86,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 82,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 58,953
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cập nhật: 30/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18492
CAD 17766 18040 18659
CHF 30521 30897 31550
CNY 0 3832 3928
EUR 28844 29062 30146
GBP 33580 33968 34906
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14968
SGD 19787 20069 20640
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Cập nhật: 30/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30